Nét độc đáo gốm Thanh Hà

Chục năm trở lại đây gốm Thanh Hà vươn lên phát triển mạnh mẽ, là một điểm sáng thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế nhất là từ khi UNESCO công nhận Hội An là di sản văn hóa thế giới.

Làng gốm Thanh Hà nằm nép bên bờ sông Thu Bồn hiền hòa, cách trung tâm khu phố cổ Hội An chừng 5km, đến đây bạn sẽ được tắm mình thoả thuê trong xứ sở gốm. Ngôi làng gốm này có lịch sử 500 năm và trải qua bao thăng trầm của thời gian, tưởng như có lúc không thể cầm cự, có nguy cơ thất truyền khi mà đời sống công nghiệp hiện đại và những chế tác vật dụng gia đình được nhập ngoại tinh xảo, lấp lánh. Thế nhưng điều kì diệu đã xảy ra, chục năm trở lại đây gốm Thanh Hà vươn lên phát triển mạnh mẽ, là một điểm sáng thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế nhất là từ khi UNESCO công nhận Hội An là di sản văn hóa thế giới.

Có lẽ, do đặc thù địa lý đất phù sa bồi đắp, cộng với nền nông nghiệp lúa nước lâu đời mà Việt Nam đã có nhiều làng nghề thủ công truyền thống trải dài nhiều thế kỷ trong đó có gốm. Gốm Hương Canh tỉnh Vĩnh Phúc, gốm Phước Tích của cố đô Huế, gốm Phù Lãng - Bắc Ninh, gốm Bầu Trúc - Ninh Thuận, gốm Lư Cấm ở thành phố biển Nha Trang, gốm Vĩnh Long bền bỉ ở đồng bằng sông Cửu Long, và gốm Thanh Hà tại mảnh đất Hội An.

untitled-17.jpg -0
Những người giữ lửa làng gốm Thanh Hà.

Người dân Thanh Hà đời nọ truyền đời kia, tự hào về nguồn cội của mình: vào đầu thế kỷ thứ 16, các tộc họ đầu tiên đến Thanh Hà là người Thanh Hóa Nam tiến khai hoang bằng đường thuỷ, thuyền của họ đã gặp bão nên ghé lại Cồn Động (một trong 13 ấp của xã Thanh Hà) khuất gió để neo thuyền. Vùng đất này sông nước hữu tình, thủy bộ hai đường đều tiện lợi nên các tộc họ không đi tiếp nữa mà cắm cọc nơi đây làm quê hương. Thanh Hà có nghĩa là sông nước của người xứ Thanh?!

Trang Thanh Hà tên gọi Nam Diêu (nghĩa là cái lò ở phía Nam), là cái rốn trung tâm của làng gốm. Họ, những người cư dân Nam Diêu với sự sáng tạo đã tận dụng thiên nhiên ưu đãi, dòng sông bồi đắp quy tụ nên một loại đất sét đặc biệt để người dân nơi đây dùng đôi bàn tay khéo léo, điêu luyện lấy đất vo tròn chuốt mịn nặn vuốt làm thành hũ vại, chum, nồi... Cứ thế, làm gốm thủ công là cách mưu sinh từ bao đời dù phải đánh vật với nắng nôi củi lửa.

Thanh Hà hình thành 13 ấp, trong đó ấp Bàu Ốc là đất có nhiều nước quý, tinh khiết, ấp Bàu Súng có nhiều hoa súng, ấp Trảng Kèo với nhiều trảng cát, ấp Bộc Thuỷ là nước vây tứ bề... Trải qua bao thời gian với biến động thăng trầm, người Thanh Hà vẫn bám nghề, bám đất. Những đứa trẻ từ khi sinh ra đã quen thuộc hình ảnh ông bà cha mẹ bên những tảng đất sét, ánh lửa bập bùng của lò nung. Ông Lê Bản, cháu nội một lái buôn gốm giàu có miêu tả khung cảnh bè củi về rợp sông Thu Bồn ngày trước. Thợ vùng Trung Phước (Nông Sơn) đẵn củi, rồi dùng trâu chuyển đến bờ sông Cái, kết bè thả trôi về. Những bè rộng từ 2-3m kết lại với nhau thành trăm khối củi. Những loại gỗ như dến, dẻ, trường, trám… trước đây dùng để đốt lò nhưng do lệnh cấm khai thác rừng, hiện nay Thanh Hà chỉ dùng củi bằng gỗ cây phi lao. Mỗi đợt nung lò cần từ 5 -10 mét khối củi.

Bước cuối cùng để phôi thành phẩm biến thành sản phẩm gốm sành. Sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm liên quan đến nhiều yếu tố: cách vào lò, un lửa, loại củi chụm, thiết kế lò, trình độ của người thợ lò và các khâu kỹ thuật lò, làm sân đá. Giờ phút nhóm lò lúc nào cũng thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm. Người thợ cả sẽ thắp ba nén nhang và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò. Quá trình nung diễn ra trong 5 ngày với gốm và 7 ngày với sành.

Điểm đặc biệt do cấu tạo đất sét ở đây nên gốm Thanh Hà mang đặc trưng rất riêng, không kiêu sa cầu kì như gốm Bát Tràng, không cứng chắc và có độ bóng như gốm Hương Canh, gốm Thanh Hà rất dung dị, bình dân mang màu nâu đỏ như màu gạch. Những sản phẩm của gốm nơi đây mang đậm tính truyền thống từ những con giống hiền lành gần gũi như heo đất, chó đất, mèo đất, lợn đất, trâu đất, gà đất, rùa đất, cú mèo đất, hay đến những hình cô gái ngộ nghĩnh làm quà tặng của lứa tuổi học trò. Đến với khu công viên gốm hay làng gốm Thanh Hà ta như được trở về miền kí ức tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên, hay chí ít ta quên đi bao bộn bề của cuộc sống ồn ào, náo nhiệt ngoài kia để được bồng bềnh thư giãn, được sống chậm.

Làng gốm Thanh Hà có 8 người được phong tặng nghệ nhân. Nghệ nhân Nguyễn Thị Được có thâm niên cao nhất làng, là một nghệ nhân có công giữ lửa nghề gốm của Thanh Hà. Bà sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm gốm. Gia phả Nguyễn Văn của bà có nhiều thợ giỏi còn được tuyển vào triều đình Huế để làm gốm. Được ươm mầm từ trong trứng nước, sau này ngay cả khi ở tuổi xưa nay hiếm bà vẫn không thôi truyền nghề cho con cháu. Tiếc thay, vì tuổi cao sức yếu bà đã mất cách đây 2 năm. Trong làng giờ còn những nghệ nhân tuổi đã ngoài 80 nhưng những người thợ già da mồi tóc trắng, lưng còng ấy vẫn đau đáu với nghề, còn hơi thở là còn nặn, còn chuốt, còn nung...

untitled-18.jpg -0
Sản phẩm giản dị gốm Thanh Hà.

Ở làng gốm Thanh Hà đã bao đời cha truyền con nối, những đứa trẻ lớn lên được hít cái mùi đặc trưng của gốm lúc còn trong phôi, lúc vừa mới ra lò. Mắt chúng được nhìn, được cầm trên tay những sản phẩm con giống hiền ngộ nghĩnh như con trâu, con lợn, con gà, con khỉ, con rùa... hay lọ hoa, chum, vại, niêu đất, đĩa sành đã trở nên quá đỗi thân thuộc. Chính thế, mà dưới những mái nhà của làng gốm đã bao đời cha truyền con nối, mạch nguồn âm ỉ chảy mãi đến nay đã 500 năm.

Những nghệ nhân tuổi đã cao, lúc nào cũng đau đáu khôn nguôi với nghề gốm. Mái đầu bạc trắng, răng lợi móm mém còn chút sức lực nào là dồn cả tâm huyết vào cho lớp trẻ kế cận học nghề. Nghề gốm đòi hỏi tính kiên trì nhưng cũng cần phải hiểu biết, rồi cộng thêm sự khéo léo, tài hoa trong sáng tạo mới tạo ra sản phẩm mang tâm tình của người thợ gốm.

Nghệ nhân Lê Quốc Tuấn là người tiên phong trong lĩnh vực gốm mỹ nghệ của làng, anh kết nối giữa truyền thống và hiện đại. Được mệnh danh là người giữ lửa cho quê hương, những sản phẩm do anh làm ra đã đoạt được nhiều giải thưởng. Nhiều năm nay lượng khách du lịch đổ về làng gốm Thanh Hà ngày một đông, không chỉ có khách trong nước mà ngay cả khách quốc tế cũng tò mò tìm đến làng gốm, cũng muốn được những người thợ lành nghề của Thanh Hà chỉ dẫn để tự tay làm ra những sản phẩm gốm. Nghệ nhân Lê Quốc Tuấn vui vẻ nói: "Cơm áo thì không cần lo nữa rồi. Cái lo là phải có sản phẩm mới, làng nghề phải bước đi, một nhịp bước hiện đại mà không bỏ quên truyền thống".

Cha anh Tuấn là nghệ nhân Lê Trọng, ông Trọng khi mới 10 tuổi đã phải vọc đất, làm đất, mặt mày nám cháy, tay chân u nần. Ông cụ kể: "Hồi chiến tranh, tản cư, màn trời chiếu đất, khổ lại thêm khổ. Tản cư về, làng bắt đầu xây dựng lại. Nghề gốm lúc này hồi sinh, mẻ lò vừa ra đã sẵn ghe bầu mang đi tiêu thụ. Nhà nhà làm gốm, người người làm gốm, ai nấy đều náo nức - Vị nghệ nhân già quả quyết - Nắng đã lên sau một tuần mưa dầm dề. Hết mưa rồi lại nắng thôi. Tôi tin là Thanh Hà sẽ sống, nghề gốm phải sống. Cha ông cũng đã nhiều phen điêu đứng cơ khổ hơn nhưng Thanh Hà và làng gốm vẫn lưu tồn đến hôm nay".

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).