Nào ai xuôi vạn lý

Đường phố Lê Duẩn ở Hà Nội (dài 2.194m, rộng 12-15m), nối từ ngã ba Điện Biên Phủ tới ngã tư Đại Cồ Việt, Xã Đàn. Trục đường này giao cắt tới 17 con phố thuộc các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng. Đặc biệt, phố còn là điểm nhấn tại Cửa Nam (Hoàng thành) và đã từng có tên Hàng Lọng (Hàng Tàn) nằm trong cụm di tích ngàn năm kẻ chợ Thăng Long.

Xưa có câu: "Ngã tư Cấm Chỉ đứng trông/ Qua Hàng Thợ Nhuộm thẳng giong Hàng Tàn" (Hà Nội băm sáu phố phường).

Hàng Lọng - Cái Quan cửa thành

Từ thời Lê Trung Hưng (1533-1788) đã xuất hiện những cửa hàng bán lọng, ô, tàn và mũ kiệu trên phố. Những người thợ từ làng Quất Động (Thường Tín) lên làm nghề dựng lọng, tàn gỗ hoặc tre bán cho các quan lại về cửa Nam thành để chầu vua. Thời đó trong cung có đưa ra tiêu chuẩn tùy chức quan được che mấy lọng và được thiết kế trang trí ra sao (ví dụ Tổng đốc Hà Nội được che 4 chiếc lọng). Phố Hàng Lọng hình thành (từ đầu phố Khâm Thiên tới ngã tư Cửa Nam) để đón lõng các vị quan dừng chân sửa chữa hay mua lọng mới trước khi vào kinh.

Đi cùng với nghề làm lọng, tàn, ô trên phố còn xuất hiện nghề thêu ren kèm theo. Thợ thêu cũng luôn nhiều việc vì phải trang trí trên vải hoặc giấy bồi quét sơn lợp dù lọng. Phải nói đây là phố làm đẹp cho các quan vào thiết triều. Dân gian xưa mỉa mai rằng: "Làm nên quan thấp, quan cao/ Làm nên lọng tía, võng đào nghênh ngang". 

2-cửa hàng bán lọng (trước năm 1911)..jpg -0
Cửa hàng bán lọng (trước năm 1911).

Sau này tới triều đại Tây Sơn và nhà Nguyễn đã rời kinh thành vào Huế thì phố Hàng Lọng chỉ tồn tại được chừng hơn 200 năm. Nghề làm hàng lọng, tàn được chuyển vào thành Huế tiếp tục phát triển cho tới sau này. Khi thực dân Pháp tới, phố Hàng Lọng được đặt tên là "Đường Cái Quan".

Tới năm 1947, sau tái chiếm Hà Nội, thực dân Pháp còn đổi thành đường "Rue De Lattre de Tassigny" (tên một tướng chỉ huy Pháp). Tới ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954), nhà nước ta đặt tên là đường Nam Bộ. Rồi năm 1988, đường Nam Bộ nối với phố Kim Liên (từ ngã tư Khâm Thiên tới ngã tư đê Lê Đại Hành) được đặt tên Lê Duẩn cho tới ngày nay.

Theo nhà thơ Văn Thao (ở số 102 Lê Duẩn) cho biết, ngôi nhà số 5 trên phố xưa là nhà in Taupin của Pháp. Cách mạng tháng Tám thành công (1945), chính phủ ta mở xưởng in tiền đầu tiên tại đây. Khi hòa bình lập lại (1954), nhà nước cho mở cửa hàng "Bách hóa số 5 Nam Bộ". Tới năm 2019, cửa hàng được chuyển nhượng cho Tập đoàn Vàng bạc, đá quý (hiện là siêu thị Hapro Mart nằm trong tòa tháp DoJi -16 tầng).

Nhà thơ Văn Thao còn kể, gần nhà ông có chùa Tiên Tích (số nhà 111 Lê Duẩn). Đây là di sản văn hóa đậm dấu ấn Thăng Long huyền thoại được dựng từ triều Lê Trung Hưng. Chuyện xưa rằng, khi nhà vua tình cờ bắt gặp một tiên nữ bên hồ Kiêm Âu (gần Văn Miếu). Vua ngỡ ngàng theo chân tới đây thì nàng tiên biến mất. Ngài bèn cho dựng chùa Tiên Tích (dấu tích nàng tiên) để lấy chốn thiền tự. Năm 1785 chùa bị cháy và được dân làng Nam Ngư (giữa phố Hàng Lọng cũ) xây lại. Sau này chùa trùng tu khang trang như hiện nay vào năm 1906. Hiện trong chùa còn bảo vật chuông do dân thôn Nam Ngư cung tiến vào thời Minh Mạng thứ 14 (1835).

Phố Hàng Lọng xưa có ngôi đền thờ tổ nghề làm lọng, tàn và thêu nhưng hiện không còn dấu tích vàng son một thuở. Theo thời gian, dân kẻ chợ Thăng Long buôn bán nhiều mặt hàng mới trên phố. Hiện hai bên đường phố mọc lên những khách sạn cùng các cửa hàng buôn bán, sửa chữa máy khâu và điện thoại. Gia đình nhà thơ Văn Thao cũng từng mở phòng bắt mạch kê đơn thuốc nam.

Ông còn cho hay, ngôi nhà nhỏ bé của mình luôn là nơi hội ngộ văn nghệ sĩ khắp nơi mỗi khi về Thủ đô. Phải chăng dấu tích Hàng Lọng xưa vẫn còn đó đọng lại trong thơ ông: "Rối vua/ Rối quan/ Rối giả đoan trang/ Rối làm hành khất/ Con rối đất/ Phẩm tô lòe loẹt/ Ai là người đã nặn ra mi?" ("Rối đất" - Văn Thao).

Phố neo hồn chiến sĩ

Có thể coi ngã ba Lê Duẩn và Điện Biên Phủ là dấu mốc cây số 0km xuất phát từ Thủ đô Hà Nội đi tới mũi Cà Mau. Sau này ga Hà Nội (Hàng Cỏ xưa) được xây dựng chiếm toàn bộ diện tích giữa phố càng làm cho đường Lê Duẩn trở nên trục giao thông quan trọng bậc nhất của Hà Nội. Nhiều ngành nghề buôn bán phát triển sầm uất mở mang hai bên dẫy phố.

Nếu bên đường nhà số lẻ có hàng chục cửa hàng buôn bán kính mắt, thì bên đường hè đối diện cũng có hàng chục cửa hàng bán quần áo, giầy mũ lính đua chen chạy dài tới ngã tư Khâm Thiên - Nguyễn Thượng Hiền. Khu trung tâm ga Hà Nội được coi là huyết mạch giao thông đường sắt đi về phía hai miền Nam - Bắc. Đồng thời nơi đây còn lưu dấu bao ký ức của thành phố trăm năm cùng những biến động của cuộc sống.

3-ga hà nội trên đường lê duẩn.jpg -1
Ga Hà Nội trên đường Lê Duẩn.

Nhạc sĩ Doãn Mẫn ở ngõ Chân Hưng xưa trên phố Lê Duẩn (gần ga) đã sáng tác ca khúc "Biệt ly" tại đây. Bài hát được viết từ năm 1937 đầy ẩn ức qua những cuộc chia tay đẫm nước mắt mà nhạc sĩ chứng kiến nơi sân ga. Giai điệu trầm buồn xót xa với lời ca thương cảm: "Biệt ly sóng trên dòng sông/ Ôi còi tàu như xé đôi lòng/ Và mây trôi nước trôi/ Ngày tháng trôi cùng lướt trôi/ Mấy phút bên nhau rồi thôi/ Đến khi bóng em mờ khuất/ Người về u buồn khắp trời/ Người ra đi với ngàn nhớ thương".

Quảng trường sân ga khá lớn khi nối với đầu phố Trần Hưng Đạo cũng là nơi tiễn những đoàn quân đi về mặt trận phía Nam một thuở. Vẫn còn đó ký ức của 25 ngày đêm chiến sĩ vệ quốc quân Thủ đô đánh chặn giặc Pháp tấn công vào ga (từ 19/12/1946 tới 15/1/1947). Sau chín năm kháng chiến thành công, quân và dân Hà Nội đã trở về giải phóng Thủ đô. Những tên lính Pháp cuối cùng đã bỏ ga tháo chạy. Sáng ngày 9/10/1954, công nhân hỏa xa đã chuẩn bị chuyến tầu đầu tiên xuống ga Văn Điển đón bộ đội, cán bộ và nhân dân vào nội thành ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954).

Từ đó ga Hà Nội được ghi dấu bao nỗi niềm và khao khát của tuổi trẻ lên đường tiếp tục cuộc chiến đầu giải phóng miền nam. Những cuộc chia ly giờ đây không còn những giọt nước mắt buồn mà luôn tươi sáng nụ cười và lời hẹn trở về. Đó là những hình ảnh thật khó quên: "Sân ga Hàng Cỏ/ Tuổi mười tám trong hàng quân/ Năm khởi chiến/ Thề ra đi/ Không trở về khi giặc chưa yên!/ Cô gái Hà Nội trong đám đông đưa tiễn/ Gửi chàng trai một bó hoa/ Và một nụ hôn" ("Em ơi! Hà Nội phố" - Phan Vũ).

Sự lạc quan của người dân Thủ đô còn được nhà thơ tôn vinh giữa cuộc chiến phòng không khi giặc Mỹ tới ném bom sập sảnh chính ga Hàng Cỏ (tháng 12/1972). Vậy mà khi ấy những đoàn tàu vẫn hối hả đưa chiến sĩ lên đường chiến đấu. Biết bao ký ức sân ga trào dâng trong tâm cảm thi sĩ: "Đoàn tàu chở đoàn quân về phía Nam/ Vào trận đánh/ Chở theo dãy phố/ Chở những con đường/ Chở nguyên Hà Nội nhớ" (Phan Vũ). Đường về phía nam được coi là khát vọng ngày nào trong cuộc chiến giải phóng miền Nam. Những chàng trai lên đường với khúc tang bồng tráng sĩ: "Nào ai xuôi vạn lý/ Phương trời Nam mây bay/ Phố neo hồn chiến sĩ/ Đường về không hẹn ngày" ("Phía trước"- Lục Hoàng).

Cuối phố - đầu ô

Ít người hình dung được ở giữa ngã tư cuối phố Lê Duẩn với Lê Đại Hành và Xã Đàn đã từng có cửa Ô Đồng Lầm (hay Ô Kim Hoa). Đây là cửa ô phía nam của tường thành đất bao quanh kinh thành Thăng Long xưa (nối đê Kim Liên sang đê Lê Đại Hành rồi chạy ra sông Hồng). Ô Đồng Lầm có kiến trúc giống như Ô Quan Chưởng hiện nay ở đầu sông Tô Lịch. Đồng thời gần Ô Đồng Lầm còn có đền Kim Liên (Kim Hoa) thờ thần trấn giữ huyết mạch phía Nam của kinh thành Thăng Long (nằm trong hệ thống Thăng Long tứ trấn từ thời nhà Lý). Phía sau cửa Ô là hai hồ rộng lớn (Bảy mẫu và ba mẫu) thuộc làng Kim Liên cổ kính (nay là phường Phương Liên).

Cuối đường Lê Duẩn trở thành huyết mạch giao thông trục đường quốc lộ số 1. Ngã tư phố như bông hoa mở cánh khổng lồ cho một cửa ô ngày nào đi về phương Nam xa xôi. Đoàn tàu chạy dọc phố luôn hú còi chào tạm biệt trước khi lên đường. Đó là những chuyến tàu mùa xuân "Đi dọc Việt Nam theo bánh con tàu quay. Ngày hôm nay thênh thang con đường lớn, tàu anh đi trong yêu thương chào đón" ("Tàu anh qua núi" - Phan Lạc Hoa).

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).