Nàng Tô Thị không hóa đá!?

Đến nay trong vốn từ vựng tiếng Việt vẫn có nhiều từ ghép với âm “đá”. Để chỉ một vấn đề mang tính điểm tựa hay nền móng người ta dùng “hòn đá tảng”, chỉ sự vững vàng, không chịu sự tác động của ngoại cảnh thì “vững như bàn thạch”, chỉ sự bền lâu mà tốt, khỏe mạnh thì “nồi đồng cối đá”...

Nhân vật lịch sử nào đáng kính sẽ được người đời “dựng tượng đá” hoặc xây mộ đá. Ngôi chùa/đền nào thiêng được làm bằng đá... Như vậy “đá” là vật thiêng. Điều này mang tính phổ quát, không chỉ trong văn hóa Việt mà hầu như có ở mọi nền văn hóa. 

Vấn đề có “gốc gác” ở quan niệm cổ xưa là đá luôn được lấy từ núi đá, mà núi đá thì gắn liền với sự vững chãi, vững bền muôn thuở. Hơn nữa núi đá chính là một “phiên bản” của “cây vũ trụ” nối đất và trời, rồi thành “cây” chống trời.. 

“Vật tổ” xa xưa nhất là “trụ trời” trong thần thoại “Thần trụ trời” được đắp bằng (đất) đá. Thế nên người phương Đông xưa để bà Nữ Oa vá trời bằng “đá”. Chỉ có như vậy truyện mới chuyển tải được cái ý nghĩa con người ta có quyết tâm thật lớn lao thì có thể làm được những việc không tưởng! 

Tượng nàng Tô Thị (Lạng Sơn).
Tượng nàng Tô Thị (Lạng Sơn).

Thế nên các đền chùa ít nhiều đều dùng đá làm vật liệu. Và thường xây dựng trên núi đá hoặc gần núi đá. Phong thủy phương Đông coi hướng nhà đẹp nhất là tựa vào núi đá và hướng ra biển cả (hoặc mênh mông như biển cả). Khái niệm còn rớt lại đến hôm nay là “đá phong thủy” tức người ta lấy đá làm “vật phong thủy” vì quan niệm “đá” có linh hồn. Theo nhiều người “chơi đá” thì mỗi hòn đá cũng có “tâm trạng”, “tính cách” như người vậy... Không biết có đúng không! Nhưng rõ ràng người ta tìm được những thanh đàn đá độc đáo, đặc sắc mà gõ lên âm thanh như có linh hồn vậy... 

Và sự thật, ở Ấn Độ, các bậc tu sỹ luôn tu tập và chỉ có thể “đắc đạo” trên núi đá. Các vị tiên trong truyền thuyết Trung Hoa cổ cũng luôn sống trên núi (đá), thậm chí chơi cờ trên núi (đá) và bàn cờ tất nhiên cũng bằng... đá. Ở văn hóa Việt, như đã phần nào nói ở trên, các vị chân tu, các văn nhân... cũng lấy núi (đá) làm môi trường sống, hoạt động. Thiền phái Trúc Lâm của Phật hoàng Trần Nhân Tông cũng lấy núi (đá) thiêng Yên Tử làm nơi thiền tọa...

Tất nhiên nàng Tô Thị trong “Sự tích núi Vọng phu” phải “hóa thân” vào đá! Có người hóa đá thì có đá hóa người. Chàng Thạch Sanh chẳng phải sinh ra (Sanh) từ đá (Thạch) đó sao?! Thì ra từ cội nguồn xa xưa đá cũng quý, cũng thiêng liêng như con người!

Nhưng nàng Tô Thị hóa đá không hề đơn giản chỉ là “hóa đá” mà cái lõi của truyện là cả một “trầm tích” được kết đọng lại bao nhiêu là lớp mã nguyên thủy. Ngày nay người ta gọi là “cổ mẫu” (hoặc “mẫu gốc”)!

Truyện rằng: Một gia đình hạnh phúc nọ một hôm cha mẹ đi làm ăn xa dặn hai con (anh trai 7, 8 tuổi và em gái 4, 5 tuổi) ở nhà trông nom nhau. Thằng anh rất chiều em, thấy con chim bay trên trời nó liền lấy hòn đá ném với suy nghĩ bắt chim cho em chơi. Hòn đá oan nghiệt không trúng chim mà quay lại rơi trúng vào đầu đứa em. Máu me bê bết, đứa em ngất đi. Thằng anh sợ quá bỏ trốn biệt. Tỉnh dậy nghĩ vì mình mà anh trốn. Cha mẹ về sẽ mắng. Đứa em cũng bỏ đi...

Hai mươi năm sau ở vùng biên ải nọ có một cặp vợ chồng hạnh phúc cùng đứa con mới hơn tuổi. Một hôm ông trời mưa gió run rủi thế nào người chồng đau đớn bỗng nhận ra mình mắc tội loạn luân đã lấy đứa em ruột. Giải pháp duy nhất là bỏ đi. Người chồng/anh dặn vợ/em ở nhà nuôi con. Mình đi xa quyết chí làm giàu. Người vợ/em một mực can ngăn... Người chồng đi một ngày người vợ bồng con ra ngõ ngóng chồng một ngày. Người chồng đi một tháng, một năm... Nàng bồng con lên núi cao để ngóng chồng cho rõ hơn. Ông trời thương tình hóa mẹ con họ thành đá! Dân gian gọi hòn đá ấy là tượng nàng Tô Thị hay núi Vọng phu. “Vọng” là nhìn nhưng là nhìn xa xăm. Nên núi ấy còn gọi là núi Ngóng chồng, núi Trông chồng...

Có ý kiến trách người chồng có phần nhẫn tâm và vô trách nhiệm. Hiểu vậy là “hiện đại hóa” cổ tích. Nếu nói ra ư? Giải quyết được chuyện gì? Hơn nữa lại làm thêm một bi kịch đau đớn bội phần ở người em/vợ. Rồi cả hai cùng chua xót, bẽ bàng. Thôi, thà một mình anh ôm mối bi kịch ấy, còn hơn để em biết sự thật phũ phàng! Đây đâu phải chuyện chia sẻ. Đây là chuyện hy sinh. Giải pháp duy nhất là câm lặng. Ra đi trong đau khổ câm lặng! Mà như thế càng ngàn lần đau khổ. Nhưng một mình anh chịu!!!

Đàn đá Khánh Sơn.
Đàn đá Khánh Sơn.

Truyện sử dụng các mô típ quen thuộc của cổ tích: ra đi và lấy nhầm nhau. Rất nhiều truyện nhân vật “bỏ đi”, “ra đi”... Người vợ bỏ đi. Người chồng ra đi. Người em út buồn rầu, tủi thân mà bỏ đi... Ra đi để thay đổi, ra đi để kiếm tìm một thân phận mới tốt đẹp hơn... Nhưng đấy lại là cả một câu chuyện khác!  

Mô típ lấy nhầm nhau là dấu vết của tục quần hôn nhưng đã rất nhạt để nổi lên chủ đề tình nghĩa vợ chồng. Đúng là người Việt trọng tình, duy tình. Thế nên mới để cho ba vợ chồng nhà nọ bất tử hóa và nồng nàn mãi bên nhau trong hình tượng ngọn lửa bập bùng cháy giữa ba ông đầu rau vững chãi (Sự tích ông đầu rau). 

Ở truyện “Sự tích núi Vọng phu” này thì người vợ hóa đá. Tại sao không hóa thành cây, thành đất, thành cỏ, thành nước...? Mà lại thành đá. Như đã nói ở trên, đá là linh thiêng, đá là vĩnh cửu, đá là bất tử. Dân gian đã vĩnh cửu hóa, bất tử hóa, thiêng liêng hóa hình tượng người vợ chờ chồng. Đúng hơn là thiêng hóa, bất tử hóa, vĩnh cửu hóa tình nghĩa con người. Có gì quý hơn con người đâu. Cái quý nhất của con người là tình nghĩa. Đây là câu chuyện rất hay về tình người. Còn người Việt Nam sẽ còn những câu chuyện như vậy. 

Thế nên, theo các tác giả Nguyễn Dược - Trung Hải trong “Sổ tay địa danh Việt Nam” (NXB Giáo dục năm 1998), không chỉ một hòn Vọng phu ở Tam Thanh – Lạng Sơn mà nước ta hiện nay có tới 7 hòn Vọng Phu ở các tỉnh khác, là Thanh Hóa, Nghệ An, Đắk Lắk, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên.

Việt Nam là đất nước của tình nghĩa, tình người, sâu sắc lắm, sâu nặng lắm! Một “cổ mẫu” Vọng phu sẽ “đẻ” ra biết bao “Vọng phu” khác. Thời hiện đại, năm 1983 khi tiếng súng cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc đang phẫn nộ, mạnh mẽ, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có hai câu thơ nhức nhối: “Biên giới giờ này đạn giặc xoáy vào đêm/ Nàng Tô Thị bồng con đi lối tắt” (Đêm trên sân ga). “Lối tắt”, những lối tắt! Thời ấy người viết bài này là một trong những người trực tiếp đi tìm những “lối tắt” ấy đã tận thấy bao bà mẹ, người chị bồng con, gồng gánh chạy giặc theo những “lối tắt” ấy. Còn những đàn ông? Họ phải chặn giặc ở tuyến đầu! Trong số bà mẹ, người chị ấy, có người trở thành “Hòn Vọng phu”?! Câu thơ đúng và hay nhức nhối!

Biết bao mong ngóng, trông đợi, chờ mong, hy vọng, khắc khoải dồn tụ vào chữ “vọng” ấy!

Cần phải đặt truyện này vào cả một nền “văn hóa đá” của các dân tộc trên đất nước Việt Nam này để thấu hiểu, thấu cảm và kính trọng cái sự truyền cảm tài năng mà cảm động của dân gian qua hình tượng núi Vọng phu hóa đá bất tử.

Đá là nơi ở, nơi che chắn, đá từng là nhà. Loài người ngày xưa ban đầu chẳng phải là ở trong hang đá đó sao? Đến nay người ta vẫn thấy có chuyện những bộ tộc ít người khước từ cuộc sống hiện đại mà bỏ vào hang đá sống! Người Raglai Tây Nguyên có truyện “Tiếng hát của người Đá” kể núi đá có linh hồn người là vì do người nhập vào đá. Thế là từ đó người thờ thần Núi, thực ra cũng là thờ người.

Đá là sự sống, là sự tái sinh. Thế nên hầu hết các dân tộc có tín ngường phồn thực đều thờ linga và yoni bằng đá. Chỉ cách nay ít năm vẫn còn phong tục đón dâu ở một số nơi vùng đồng bằng Bắc Bộ là trước khi cô dâu về đến nhà chồng người ta lấy cái chày giã vào cối đá mấy tiếng thật to với hàm ý vợ chồng khỏe mạnh mà sinh nhiều con...

Đá là hòa hợp, yêu thương. Đó là những hòn đá hình người nằm cạnh nhau, chồng lên nhau... mãi mãi như đá. Thế là dân gian gọi một cách thi vị đầy ý nghĩa là hòn Trống Mái (Sầm Sơn, Hạ Long); Hòn Chồng Vợ (Khánh Hòa)… Khi có gió biển thổi những hòn đá ấy lại phát ra âm thanh, thứ âm thanh chồng vợ quấn quýt, hổn hển, rã rời trong hoan lạc yêu đương...

Đá là nghệ thuật. Ở Khánh Sơn (Khánh Hòa) và Ninh Sơn (Ninh Thuận), người ta sưu tầm được hơn 90 thanh nhạc cụ bằng đá do người Raglai cất giữ, làm chủ, sử dụng đã từ rất lâu đời...

Như vậy nàng Tô Thị hóa đá chính là một cách thiêng hóa, bất tử hóa, vĩnh cửu hóa tình người!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).