Mỹ học Trạng Trình!

Ngôi nhà mỹ học Việt Nam hiện đại phải có nền móng là hệ thống những quan niệm về cái đẹp của cha ông thể hiện trong văn học dân gian, trong sáng tác của các tác gia lớn. Bài viết xin tìm hiểu trên nét lớn mỹ học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), soi vào ngày hôm nay để thấy chúng ta còn phải học nhiều hơn từ truyền thống.

Trong “Tân quán ngụ hứng” (bài số 47, chữ Hán) Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm cái đẹp là cơ sở để đất nước hòa bình, phát triển: “Nghìn thứ hoa đua nhau vẻ đẹp, đất này cứ xuân mãi/ Hai vầng nhật nguyệt thay nhau chiếu dọi, vùng trời không có đêm/ Khi vui thì đem tâm mình mà dung hòa cảnh sắc ngoài chốn bụi bặm”.

Ngoài nghĩa đen, hình tượng hoa thiên về nghĩa ẩn dụ chỉ con người. Mỗi người một vẻ đẹp thì đất nước ắt là cả mùa xuân và mãi mãi xuân. Đặt trong quan niệm chung có thể hiểu “hai vầng nhật nguyệt” là đạo Nho và đạo Phật cùng soi sáng nhân quần. Đất nước thanh bình yên ả thì con người cũng vui, vui cả trong tâm tính, cả biểu hiện bên ngoài. Đây là cái nhìn mới gắn liền nghệ thuật với đời sống con người và xã hội. Cái đẹp vừa là cơ sở vừa là động lực cũng là mục đích của xã hội.

untitled-3.jpg -0
Tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Chủ trương xây dựng một xã hội hài hòa hướng về cái đẹp Trạng Trình đề cao giáo dục đạo đức. Ở bài “Ngụ hứng” (số 4) có hai câu thể hiện rõ quan niệm này: “Huề hương hoa mãn kính/ Thực đức hạnh thành lâm” (Thoảng mùi thơm có hoa đầy luống/ Trồng cây đức hạnh thành rừng). Mỗi người là một “cây đức hạnh” cả xã hội thành “rừng” đức hạnh thì sẽ là một xã hội thịnh trị. Nhà thơ quan niệm xây dựng cái đẹp gắn với sự từ bi của đạo Phật: “Khai thì bất yếu tranh xuân sắc/ Chỉ yếu như như kiến Phật tâm - Hoa nở chẳng phải để tranh đua sắc xuân/ Cốt đạt đến vẻ chân như để thấy tâm Phật” (Ưu đàm hoa).

Xuất phát từ quan niệm cái đẹp không tĩnh tại mà trong thế phát triển nên ở thơ ông hay gặp hình ảnh cái đẹp đi cùng cái mới: “Vô hạn xuân phong hảo/ Kim niên thắng tích niên - Gió xuân hòa dịu vô cùng/ Năm nay đẹp hơn năm trước” (Trung tân quán ngụ hứng). Mỹ học Trạng Trình giản dị, chân quê nhưng luôn mới: “Tối ái ngư ông giang thượng địch/ Lạc mai nhất khúc lộng tân thanh - Đáng ưa nhất là tiếng sáo của ông chài trên sông/ Một khúc Lạc mai phổ vào điệu nhạc mới” (Ngụ hứng số 7). “Lạc mai” (hoa mai rụng) vốn là khúc hát cổ phương Đông phải được “phổ vào điệu nhạc mới”. Có thể hiểu với tác phẩm nghệ thuật thì nội dung có thể truyền thống nhưng phải được thể hiện bằng hình thức mới. Ý này có cả trong bài “Tích hoa”: “Nhất chi cựu thị nhất chi tân - Một cành cũ mà cũng là một cành mới”. Rất rõ một sự kế thừa tư tưởng mỹ học cái mới của Phật hoàng Trần Nhân Tông: Mỗi lần nêu là một lần mới!

Có cái gốc là mỹ học bình dân, gần dân nên thơ ông chuộng sự giản dị: “Văn tự tòng kim bất yếu công - Văn chương từ nay không cần trau chuốt” (Tự thuật 2). Hình tượng thơ mộc mạc dân giã: “Tạ khước hồng lâu tử mạch nhàn/ Nhậm tùy dã dật bạn khê san - Từ giã chốn lầu hồng, ngõ tía thanh nhàn/ Thích mọc ở đồng nội, bạn với suối khe” (Dã hoa thi), không ưa cái xảo: “Tự cổ xảo ngôn thành khả úy - Từ xưa lời khéo rất đáng sợ” (Bách thiệt thi). Thế nên nhà thơ tôn trọng bản thể tự nhiên của mình: “Nhàn lai ngô diệc lạc ngô thiên - Khi nhàn ta vui với tính tự nhiên của ta” (Ngụ hứng). Do vậy mà tránh xa cái lụy vật chất: “Lợi danh tự tiếu vi thân lụy - Danh lợi, tự cười đó là cái lụy cho thân mình” (Tân quán ngụ hứng 52). Nhiều lần ông nhắc đến chuyện rời bỏ danh lợi để về với suối khe mà vui cái thú lâm tuyền.

Xin nhấn mạnh một quan niệm mỹ học hiện đại (chưa thấy nhà nghiên cứu nào phân tích) ở Trạng Trình là sự thích nghi, điều mà ở ngày hôm nay, rất nên học tập: “Cự sương khai xứ tối nghi sương - Chống chọi với sương giá tốt nhất là thích nghi với sương giá” (Phù dung hoa thi).

Triết học liên văn hóa (The Intercultural Philosophy) của thế giới đương đại đang trong quá trình xác lập mô hình con người văn hóa trên cơ sở tích hợp nhiều nguồn văn hóa, bao gồm: tri thức, khoan dung, hòa đồng, tôn trọng cái đẹp tự nhiên, thấu hiểu và thấu cảm để gắn kết và gắn nối con người với con người, với tự nhiên, với xã hội… Thật ngạc nhiên và tự hào, những vấn đề ấy lại biểu hiện một cách tương đối đầy đủ và hệ thống trong mỹ học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Điều ấy cho thấy ông là con người của nhân loại, mang tầm văn hóa nhân loại, đi trước thời đại.

Là nhà Nho nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm học Phật, hiểu Phật, am hiểu sâu sắc Lão Trang, giỏi Dịch lý và phong thủy. Đó là các mạch nguồn tri thức để cây đại thụ Trạng Trình kết nên những trái cây tư tưởng “liên văn hóa” đích thực.

Bài “Trung Tân quán bi ký” mang tính tuyên ngôn: “Trung nghĩa là trung chính vậy. Giữ được toàn vẹn tính thiện của mình là trung, không giữ được toàn vẹn tính thiện của mình thì không phải là trung vậy. Tân tức là bến vậy. Biết chỗ dừng, đó là đúng bến; không biết chỗ dừng, thì là lạc bến vậy”.

Có thể hiểu“bến” là bến bờ Giác ngộ. Muốn cập bến Giác ngộ, phải có hiểu biết, còn không sẽ bị “lạc bến” mà trôi vào bể khổ của tham, sân, si… Đó sự tích hợp, tổng hòa rất đẹp của ba luồng tư tưởng lớn: Phật, Nho, Lão. Một biểu hiện của “tam giáo đồng nguyên” đặc sắc trong tư tưởng Việt Nam, góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt.

image003.jpg -0
Rừng suối (lâm tuyền) – vẻ đẹp cổ điển của mỹ học phương Đông!

Nhà thơ hay nói đến chữ “nhàn”: “Nhàn trung tối lạc sơn tuyền thú - Trong đời nhàn vui nhất là thú rừng suối” (Tân quán ngụ hứng 27). “Nhàn” không phải là không làm gì mà là “nhàn tâm”, “nhàn” với vòng danh lợi. Một cuộc sống thoát tục về tinh thần nhưng vẫn ở giữa trần gian vui những thú vui trần thế và những lo toan trần thế. Thơ ông có rất nhiều chữ tĩnh, tĩnh để suy ngẫm, tĩnh để nhàn, tĩnh trong càn khôn trời đất, tĩnh trong lòng người… Tĩnh để hiểu lẽ trời: “Càn khôn tĩnh lý suy - Lẽ trời đất hiểu được từ trong yên lặng” (“Hựu thập nhị vận”). Ngày nay người ta kêu gọi “sống chậm”, muốn vậy phải có “tĩnh”, không gian “tĩnh” và “tâm tĩnh”. Trạng Trình đi trướcnhiều!

Như là hệ quả của “tĩnh” mà thơ ông có rất nhiều chữ “tri” tức sự tính toán để biết thời thế: “Đắc toán nhiêu đa thắng/ Tri cơ thẩm vạn tuyền - Tính toán đúng thì thừa thắng lợi/ Biết cơ ứng biến được vẹn toàn” (Quan kỳ cổ ý). Có “tri” mới biết được bản chất, nguồn cội vấn đề: “Chí tĩnh tri chân lạc/ Vô hà hiện đức âm - Thật yên lặng, nhìn rõ nguồn vui đích thực/ Không tì vết nào, đức tốt hiển hiện” (Thạch giả sơn). Có “tri” mới thành người “trí” để tiên tri (biết trước). Đây cũng là quan niệm của Hồ Chí Minh sau này khi gọi văn nghệ sĩ là các bậc tiên tri, tiên giác!

Muốn có “tri”, không cách nào khác là phải đọc nhiều sách: “Thi thư thiên quyển trợ nghiên tinh - Ngàn quyển sách giúp cho sự nghiền ngẫm đạt đến tinh vi” (“Minh song thi 2”). Con người lười học, xã hội lười học, tất cả sẽ sa vào sự hoang dại, hoang hóa: “Thánh học trăn vu cửu thất chân - Thánh học hoang vu sẽ mất đi sự chân xác” (Tân quán ngụ hứng 21). Nhờ “tĩnh” để có “tri”, có “tri” nên trọng “hòa”, do vậy mà chữ “hòa” cũng có mặt với tần số rất cao. Hòa là “âm chủ” của nghệ thuật: “Các cảnh đẹp đều đầy đủ, song chưa có tiếng khánh, biết lấy gì đặng khiến người ta tự xét sâu xa, hiểu rõ thân nghiệp, rửa sạch nhĩ căn mà có sự cảnh tỉnh giác ngộ vậy thay!”.

Một xã hội lấy hòa làm trọng, lấy đạo đức làm gốc, đó là xã hội hạnh phúc, như ông nói: “Ta bảo: theo đạo để giác ngộ điều thiện, nhân thanh âm để dẫn đạo tinh thần, ắt phải chế tạo pháp khí đặng làm hình tượng vậy. Ôi, hòa là chủ của âm nhạc, thiện là gốc của giáo hóa. Khánh đá một khi treo lên, tiếng vang khôn cùng”. Chữ “đạo” ở đây nghĩa gốc là con đường, nên được hiểu rộng rãi, nếu ngày xưa là tôn giáo (Nho, Phật, Lão) thì nay có thể hiểu đó là một tư tưởng chính trị, một lý tưởng sống...

 Bốn chữ “tĩnh”, “tri”, “trí”, “hòa” như bốn đỉnh tháp tư tưởng sừng sững trong thế giới thơ Trình Quốc công. Hình như nhà thơ muốn khẳng định: xây tòa nhà giáo dục cho xã hội cũng như xây ngôi nhà nhân cách cho mỗi người phải lấy bốn chữ này làm bốn cột cái! Nếu thiếu “Tĩnh” con người sẽ không có bình tĩnh, điềm đạm mà dễ nóng giận; thiếu “Tri” sẽ dễ vô văn hóa; thiếu “Trí” sẽ không nhận ra đâu là phải trái; thiếu “Hòa” sẽ dễ gây ra xung đột… Mà hôm nay con người hình như đang thiếu cả bốn điều cơ bản ấy!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).