Mỹ học tiếng cười

Nói đến cái hài là nói đến tiếng cười nhưng không phải là một, đúng hơn, chúng thống nhất nhưng không đồng nhất.

Tiếng cười luôn có mặt trong cái hài, trong mối quan hệ chủ thể khách thể của quan hệ thẩm mỹ, cái hài là khách quan thì tiếng cười gắn liền với chủ thể. Là kết quả của cái hài, tiếng cười bao giờ cũng vang lên từ một chủ thể nào đó hướng về phía khách quan là cái đáng cười. Vì lẽ này mỹ học rất đề cao tiếng cười, coi đó là một dấu hiệu rõ nhất của tính người, cũng rất đúng khi có người coi tiếng cười “là vũ khí của người mạnh”.

Đương nhiên tiếng cười là mỹ học của cái hài, nhưng tiếng cười còn là mỹ học của cái đẹp, vì cười cái xấu để con người tránh xa nó để hướng đến cái đẹp, cái tốt, cái tích cực. Phủ nhận cái xấu để chuẩn bị cho cái đẹp sinh thành. Đó là ý nghĩa xã hội lớn lao của tiếng cười. Do vậy nhiều nhà nghiên cứu mỹ học coi tiếng cười là mỹ học lưỡng tính hay mỹ học phổ quát là như vậy.

Hề chèo – Tranh Bùi Xuân Phái.
Hề chèo – Tranh Bùi Xuân Phái.

Cái hài là cơ sở tạo nên tiếng cười nên tìm hiểu, nghiên cứu hay kiến tạo tiếng cười bao giờ cũng phải chú ý đầu tiên đến đối tượng gây cười mang tính hài. Đó là những khuyết tật xấu xí, hèn kém, dối trá, ác độc, tham lam...

Không phải cái xấu nào cũng đều tạo nên tiếng cười, mà chỉ có cái xấu về mặt xã hội mới tạo ra tiếng cười. Cười một người không may bị ngã, thì là cái cười vô duyên, phản cảm. Nếu cố tạo nên tiếng cười từ sự khuyết tật bẩm sinh thì là biểu hiện của sự kém hiểu biết về mỹ học, không có sự đồng cảm, là sự nhạo báng vô đạo đức vì là cười trên sự đau khổ của người khác. Nếu khoét vào những cái vặt vãnh, đời thường, vào cái thông tục, cái không bản chất sẽ chỉ cho tiếng cười rẻ tiền…

Nhưng cũng nhìn rộng rãi hơn thì tiếng cười có ngay trong cái mới, tiến bộ khi nó tự mang trong mình cái cũ chưa gột bỏ hết, còn những cái chưa hoàn thiện. Trường hợp này tạo ra tiếng cười hài hước, đáng yêu như em bé vụng về mà hồn nhiên bắt chước người lớn hay nhà bác học đãng trí có vẻ ngoài ngô nghê…

Bản thân những cái xấu vẫn chưa phải cái hài. Xấu nhưng không đành phận xấu, lại đội lốt cái đẹp, tự cho mình là đẹp thì mới là cái hài. Phải có tiếng cười của nhà trào phúng lột, rồi giật phăng cái mặt nạ giả dối để làm trơ ra sự thật thảm hại của cái xấu ấy. Vì thế bản chất cái hài là sự mâu thuẫn giữa các mặt đối lập, giữa nội dung và hình thức, giữa đạo đức và phi đạo đức, giữa hèn kém và cao thượng, giữa dốt nát ngu đần và trí tuệ hiền minh…

Những mâu thuẫn này càng căng thẳng càng tạo ra sự bất ngờ (kịch tính) thì càng tạo nên cường độ mạnh mẽ của tiếng cười. Điều này lại dẫn đến vai trò quyết định của chủ thể cười, tức nhà trào phúng, phải trí tuệ để nhìn thấy những mâu thuẫn hài; phải có sự phẫn nộ của lý trí muốn đòi lại lẽ phải, sự công bằng; phải có trái tim đầy yêu thương con người, căm thù cái xấu bênh vực cái tốt; phải có năng khiếu trời phú, có tài năng mỹ học về cái hài biết đẩy mâu thuẫn hài đến kịch tính…

Vì vậy cảm xúc hài kịch là cảm xúc thiên về trí tuệ. Tiếng cười bật ra từ cái hài luôn là một thái độ nhận thức, phê phán, phản biện hiện thực, tức tiếng cười phủ định cái tiêu cực. Nhưng cũng có tiếng cười khẳng định, đấy là tiếng cười tự trào, cười mình để khẳng định mình, thường chỉ có ở những nhà văn lớn.

Từ những vấn đề lý thuyết cơ bản trên ứng vào thực tế chúng ta thấy ngay cái yếu của sân khấu hài kịch hôm nay là ở khâu kịch bản. Kịch bản chưa tạo ra những mâu thuẫn hài đích đáng để bật ra tiếng cười, tức thiếu những mâu thuẫn kịch mang tính nổi bật của đời sống xã hội. Nhận thức của khán/độc giả ngày một cao trong khi ý nghĩa kịch bản văn học không những không cao lên mà có dấu hiệu chùng xuống. Rất nhiều vở kịch mới chỉ mang tính chọc cười bông lơn vui vẻ, cười xong rồi thôi hơn là sự gây cười trí tuệ sâu sắc, càng ngẫm càng thấy thấm thía, sâu lắng. Xã hội đang rất cần những Tào Mạt, Lộng Chương, Lưu Quang Vũ… những nhà trào phúng lớn!

Chất muối hài mặn mòi luôn là sự kết tinh của những mâu thuẫn đời sống được khúc xạ qua cái nhìn nghệ thuật tiến bộ, nhân văn, được cấu trúc lại thành các tình huống giàu tính kịch như nghịch lý, trớ trêu hay nhầm lẫn, éo le... Kịch bản đuối tay thường dông dài, không tiêu biểu và thường phải viện nhờ đến cái tục.

Phải tìm ra những câu chuyện thật sự đáng cười để kể lại, dựng lại nhằm mục đích phê phán chế giễu, từ đó làm bật ra ý nghĩa tích cực làm lành mạnh, trong sạch hoá cuộc sống. Từ xưa người ta coi sân khấu có tác dụng “thanh lọc” là theo ý nghĩa đó. Thế nên kịch bản luôn là khâu quyết định. Tác giả kịch bản phải thực sự tài năng và một năng lực hoá thân vào cuộc đời để nắm bắt những mâu thuẫn bản chất, có “bịa” cũng phải “bịa như thật” tức phải dựa trên lôgic thực tại của cuộc sống.

Về hình thức, kịch bản hài phải cô đọng, ngắn gọn, phải có tình tiết, chi tiết hài được giấu kín để làm sao khi “mở nút” bật ra thật bất ngờ kéo theo tiếng cười ngạc nhiên, thích thú, sảng khoái của người xem. Sự dài dòng sẽ làm giảm sự chú ý của khán giả, sân khấu chỉ còn là sự “độn” cảnh, “độn” lời thoại của sự pha trò vặt...

Tiếng cười phải luôn ý nghĩa xã hội tích cực, có thể tích truyện của ngày hôm qua nhưng tiếng cười phải hướng đến hôm nay để giúp đời tốt hơn, đáng sống hơn... Vì thế diễn xuất phải làm sống động hoá kịch bản, diễn viên phải thực sự tài năng hiểu thấu ý nghĩa chủ đề, phải hiểu đời và đau đời. Bởi tiếng cười vừa là trí tuệ vừa là tâm hồn. Diễn viên giỏi phải biết “khóc nghẹn” bên trong để có tiếng cười tươi nở bên ngoài...

Không phải cứ có tiếng cười là cần đến cái tục, vì cái tục chỉ là một trong rất nhiều phương tiện, phương thức gây cười. Ngay ở truyện tiếu lâm hay ca dao trào phúng, cái tục cũng chỉ xuất hiện khi cần đến sự vạch trần, đả kích, châm biếm đích đáng đối tượng. Sự có mặt của nó còn tuỳ thuộc chủ đề, nội dung kịch bản, tuỳ đối tượng tiếp nhận. Tiếng cười Nguyễn Công Hoan trong truyện ngắn "Ngựa người và người ngựa" có cái tục đâu mà sâu sắc, triết lý, đau đớn như thế. Rộng hơn, trước đó tiếng cười của mỹ học Nho gia Nguyến Khuyến rất ít cái tục sao chua chát thâm trầm mà tinh tế sâu sắc như thế!... Lạm dụng cái tục một cách tràn lan là hạ thấp và coi thường độc giả.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).