Mùa vu lan

Ngày Rằm tháng Bảy của người Việt là lễ báo hiếu, vì đó là ngày “Xá tội vong nhân”, nghĩa là các vong hồn có tội đều được tha. Với người Mường thì khác, tất cả mọi vong hồn đều thanh sạch, vô tội khi trở về thế giới của tổ tiên họ.

Các đêm mo trong đám tang

Khi có người thân qua đời, người ta vội đi mời thầy mo, người Mường gọi là Pộ (bố) mo. Thầy mo là người dẫn dắt toàn bộ quá trình tang lễ. Trong các đêm mo, dù dài hay ngắn thầy mo cũng chỉ làm một việc là thuyết phục và hướng dẫn vong hồn thực hành các chuyến đi, đi thăm họ hàng ở mường ma, nơi họ sắp đến, thăm lại nhà cửa, làng xóm nơi họ sắp chia tay, và quan trọng nhất là chuyến đi lên mường Trời dằng dặc và trở về để từ biệt con cháu lần cuối cùng. Mỗi đêm, từ đầu hôm đến mờ sáng, thầy mo ngâm nga tang ca không dứt.

Ngày xưa các đám tang phải làm 12 đêm mo. Thầy mo Bùi Văn Minh - Nghệ nhân nhân dân ở Lạc Sơn, Hòa Bình cho hay: Đám tang ông Quách Vị, Chánh Quan lang tỉnh Mường, tương đương Tuần phủ của người Kinh, do thầy mo Bùi Văn Thiện, là cụ bốn đời của thầy Minh thực hiện cách đây gần một thế kỷ, kéo dài đến 24 đêm. Với thời gian kéo dài như thế, thầy mo phải xướng hàng vạn câu mo.

mo vinh .jpg -0
Thầy mo, Nghệ nhân Ưu tú Bùi Văn Vịnh làm lễ xin phép trước khi đi làm mo đám tang.

Trong khi ngâm nga áng mo, thầy mo luôn cầm quạt giấy phe phẩy và thỉnh thoảng rung lên một hồi chuông. Thầy mo, Nghệ nhân Ưu tú Bùi Văn Vịnh ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, nói rằng, đó là quạt là để những lời mo bay xa và chuông để dẫn đường cho linh hồn.

Lên mường Trời hầu kiện thể hiện qua áng mo Kiện, đây là chuyến đi xa nhất, kéo dài đến năm đêm mo và quan trọng nhất vì linh hồn người chết được/bị vua Trời phán xử.

Nghe nói về phán xử, tôi hình dung ra bộ tranh Thập điện Diêm vương thường có ở các ngôi chùa, là mười vị vua cai quản cõi chết và phán xét các linh hồn căn cứ vào công, tội của họ khi sống trên thế gian. Tranh tượng mô tả những cảnh tra khảo tội nhân rất ghê sợ, phía trên là vị Diêm Vương, dưới là quỷ sứ, đầu trâu mặt ngựa với các linh hồn bị chó cắn, rắn nuốt, bỏ vạc dầu, quỷ sứ xẻ thân, cho vào cối giã, quỷ sứ rút lưỡi… Đến điện thứ mười là “Đệ thập điện Chuyển Luân Minh Vương” là nơi xem xét cho chuyển kiếp luân hồi, có những người vì tội nặng mà phải chuyển thành súc sinh…

Thập điện Diêm Vương được thờ nhằm khuyến thiện, trừng ác, răn đe con người, nhưng nhìn vào đó, những ai có thân nhân từng phạm tội, từng làm điều ác không khỏi đau khổ, lo lắng cho linh hồn người thân. Và chắc hẳn giờ phút lâm chung đau đớn của nhiều người sẽ đến cùng với nỗi sợ hãi khủng khiếp.

Nhiều tôn giáo tin tưởng có ngày phán xử cuối cùng, những ai sống đời đạo hạnh, tử tế trong cuộc sống trần gian sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu ở cõi Trời, những người chưa được hoàn hảo sẽ phải qua luyện ngục, còn những kẻ độc ác, gian tham, phạm trọng tội… sẽ bị trừng phạt trong hỏa ngục.

Người Mường có nỗi lo sợ ấy không, việc xét xử trên Mường Trời cao xa ấy, linh hồn người chết sẽ phải ra tòa như thế nào?

Ngày phán xử cuối cùng

Nơi xử kiện có Lang Vua Trời chủ trì, có mười hai ông Kem như hội đồng xét xử, có các bị hại, nguyên đơn lên cáo buộc… Và đương nhiên tòa có uy quyền, trấn áp:

Cái tràng gông này ở đây đã đẹp
Không biết ép ai vào trước
Đừng có ngập ngờ mà bị tội
Không phải việc nói dối được đâu.

Tuy nhiên, lời răn đe ấy “hoàn toàn trái ngược với tính nhân bản vốn thấm nhuần tang lễ Mường từ đầu chí cuối”. Phiên tòa mở ra, người chết không bị xét xử về những tội riêng của mình, trái lại họ chỉ bị “truy tố” về những tội chung, ai cũng mắc phải. Người chết là đàn ông thì nguyên đơn là động vật như trâu bò, gà vịt, rồi đến ong, ngóe… kêu kiện. Người chết là đàn bà thì bị cây cỏ kiện.

Hãy xem hổ kiện:

Bỗng dưng lại thấy hổ mang nhợ, mang chông
Nó bước ra sân quỳ lạy ngoay ngoắt
Lạy giữa trước mặt Lang Vua Trời
Mười hai ông Kem tiểu tài quan nhân phán kiện…
- Khi thân chúng tôi còn sống, còn lành ở mường Bi Lồ, Ai Nam mường dưới
Chúng đã từng giết chúng tôi, còn ngần nào chúng tôi lên hầu kiện ngần ấy.

Mười hai ông Kem phán kiện với lời lẽ như công tố, buộc tội:

- Làm sao bay, hỡi người
Làm sao bay, người à?
Lang Vua Trời muốn bắt tội chúng bay
Như khoảng mây đen ăn lấp mặt trăng…

Người bị kiện giãi bày:

Khi ấy Cun lang Tá Cần cấy lúa ra đồng, trồng lúa ra ruộng
Con hổ vàng nó lượn phía cạn
Con hổ trắng nó lượn phía trũng
Làm cho sâu cắn gốc lúa
Làm cho châu chấu cắn cành lúa
Vì thế Cun lang Tá Cần lúa nương không được một mà, lúa ruộng không được một thúng
Anh chị em đến thăm không lấy gì mà ăn, thức gì mà uống
Thấy bực tức, giận dữ
Dậy săn bắt giết chúng
Có kiện sao không kiện từ thuở Cun lang Tá Cần
Kiện gì hôm nay?
Chúng ta dễ được chứ chẳng thua.

Cun lang Tá Cần là vị thủ lĩnh thần thánh đầu tiên của người Mường được ghi trong sử thi “Đẻ đất, đẻ nước”. Ông là người dạy dân Mường làm nhà sàn, tìm ra cách đánh lửa, học cách lấy giống lúa, bắt trâu về nuôi để cày bừa, tìm ra cách nấu rượu…

Hổ thua kiện, dẫn đàn con trở về. Chủ tọa phiên tòa là “Lang Vua Trời” thì “cười nghiêng cười ngả/ Nghiêng ngả như thể trông thấy cả chợ Vi Thầu” và khen “Con người đen đầu nay thật khéo kiện”.

Lại thấy “Ong khoái mang bó rơm/ Con khỉ mang ống mũi tên” vào kiện. Việc giải quyết cũng diễn ra như vụ án của hổ, người bị kiện trình bày rằng: Khi ấy Cun lang Tá Cần cấy lúa ra đồng, trồng lúa ra ruộng/ Con ong nó làm tổ trong ruộng lúa/ Nó bay đi bay lại/ Vì thế Cun lang Tá Cần lúa nương không được một mà, lúa ruộng không được một thúng/ Anh chị em đến thăm không lấy gì mà ăn, thức gì mà uống

Thấy bực tức, giận dữ/ Dậy săn bắt giết chúng/ Có kiện sao không kiện từ thuở Cun lang Tá Cần/ Kiện gì hôm nay?... Và Lang Vua Trời lại “cười nghiêng cười ngả”. Vụ kiện nào cũng kết thúc như thế.

Lên đối kiện trước mặt bố con Vua Trời
Với ông Kem nhà nội, nhà ngoại
Với quan văn triều phán
Để việc nhỏ cho qua
Việc cả cho thôi
Cho dứt đàng đôi
Dứt đường công nợ
Không mắc mớ gì về sau...

Lang Vua Trời tuyên linh hồn không phạm tội. Không có phiên tòa nào kết thúc bằng lời kết tội và hình phạt! Các linh hồn đều được tuyên vô tội để họ có một lý lịch mới thanh sạch, sau đó họ được cấp một số phận mới tinh khôi để về với tổ tiên nơi mường Ma, còn gọi là mường Chạ Đống. Họ bình yên mãi mãi, để con cháu yên vui làm ăn, không lo lắng vướng bận về người chết nữa.

Lời người ra đi

Khi linh hồn từ mường Trời trở về, tùy điều kiện tang chủ mà người chết được giữ lại một đêm hay một số đêm nữa để người sống tỏ hết nỗi tiếc thương và lòng ân cần với thân nhân vừa qua đời. Đến áng Tách lìa (mo táy, mo lìa) thầy mo không giải thích, hướng dẫn nữa mà linh hồn người chết thông qua thầy mo nói những lời căn dặn đối với người thân, lời vĩnh biệt đối mọi người và cả súc vật trong nhà. Ví dụ một người cha vừa qua đời, sẽ gửi gắm lại những điều da diết:

Con trai ta ở lại
Con gái ta ở lại ngày sau
Con anh phải xem đụn
Con em, con chị phải biết trông nhà
Xem gà, ngó lợn
Giữ lửa, chăm nước con ơi
Để cho người từ ngoài đồng trông vào nhà con ta
Thấy dường như còn có bố con ời.

Linh hồn dặn dò con cháu biết thương yêu, nhường nhịn nhau:

Con anh, con em, còn ở chung đụn, chung nhà
Con chị có mắng nhiếc
Con em phải nhẫn nhìn
Dường như thể tai điếc đấy con ời

Linh hồn còn căn dặn, khuyên nhủ con cái chăm chỉ làm ăn, nhắc nhở về giữ gìn đạo đức, nhân phẩm:

Con ta không được đi ăn trộm rau mà người ta mắng nhắc
Mắng nhở đến cha mà thương con ời
Con ta không được đi ăn trộm trâu
Con ta không được đi ăn trộm bò
Con ta không được nói xấu con dâu, con rể

Đây là áng mo với lời văn gần với đời sống nhất, dùng ngôn ngữ đời thường, nói những điều gần gũi nên gây xúc động lớn lao, thân nhân người chết lắng nghe mà nức nở không nguôi…

*

Liên hệ đến chuyện vong báo oán, thỉnh oan gia trái chủ… gây tâm lý bất an cho nhiều gia đình, gây nhiễu loạn xã hội gần đây, càng thấy ý nghĩa sâu sắc của “Mo lên Trời” trong đời sống của người Mường. Mo chính là để trấn an người sống, giải quyết hết tội trạng, công nợ của người chết trước khi về mường ma. Trong tang lễ, con cháu đã tiến hành nghi lễ mo lên trời thì họ yên tâm rằng không bao giờ có chuyện vong trở về quấy quả người sống. Đó là ý nghĩa nhân văn, tầm nhìn xa trông rộng của người Mường - nhà nghiên cứu văn hóa Mường Bùi Huy Vọng đánh giá.

Nguyễn Phan Khiêm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).