Mưa rơi ở các chân trời văn hóa!

Các hiện tượng tự nhiên gần gũi bước vào trong ngôi nhà văn hóa nhân loại chịu sự khúc xạ của tâm lý, tính cách người nên đều mang phẩm chất nhân tính rất rõ. Khi trở thành biểu tượng thì chúng đã được tích lũy rất nhiều hàm lượng ý nghĩa biểu hiện những quan niệm, suy nghĩ, ước mong của cả cộng đồng. Với cư dân nông nghiệp Á Đông mưa là một trong những biểu tượng được ký gửi nhiều lớp mã nhất.

Theo "Kinh Dịch" mưa thuộc quẻ "càn" tức thuộc trời. Điều này được hiểu theo 2 nghĩa: Một là, trời làm ra mưa, trời cho mưa thì được, không cho thì phải chịu, nên khi cần phải xin (cầu) trời. Lễ hội cầu mưa là cầu trời cho mưa. Đồng dao Việt Nam đã nói đúng về bản chất tín ngưỡng này: "Lạy trời mưa xuống/ Lấy nước tôi uống/ Lấy ruộng tôi cày...".

Hai là coi tầm quan trọng của mưa cũng lớn lao như trời vậy. Nghĩa này đẩy hình tượng về phía thiêng, tức được thiêng hóa. Các nền văn hóa cổ xưa hầu như cũng quan niệm thế. Đạo Hồi cho rằng Chúa Trời sai thiên thần xuống cùng với những giọt mưa. Tức đồng nhất mưa với các thiên thần giáng thế. Đạo Hinđu quan niệm các đấng anh linh giấu mình trong những giọt mưa đi từ mặt trăng xuống... Hầu hết các tôn giáo rất đề cao mưa, coi đó là ơn trời; là hạnh phúc, may mắn; là sứ giả nhà trời; là cầu nối trời - đất...

Về điểm này người Việt có cách nói "ơn mưa móc" chỉ ơn huệ của bề trên, đồng thời quan niệm mưa cũng là hạnh phúc nên có thành ngữ "Mưa bao giờ mát mặt bấy giờ" tức sung sướng hạnh phúc lúc nào biết lúc ấy (!?), cho thấy triết lý của người Việt cũng song hành và tương đồng với nhân loại!

Mưa rơi ở các chân trời văn hóa! -0
Lễ cầu mưa của đồng bào X’tiêng!

Người Việt có câu thật hay: "Mưa tháng ba hoa đất" tức mưa tháng ba rất đẹp, rất quý, đất như nở hoa, cây cối xanh tốt. Nhìn rộng ra tất cả các vùng văn minh nông nghiệp mưa đều quý. Các so sánh, ẩn dụ về mưa như "quý như vàng", "trận mưa vàng"... đều có ở hầu hết mọi vùng dân cư. Thậm chí có quốc gia cổ vùng Trung Á đồng nhất tên tiền tệ với mưa, cũng là một cách đề cao: "Mưa quý như tiền/vàng"! Những điều ấy dựa trên một thực tế là nhờ có mưa (một thứ đạm tự nhiên rất tốt cho cây trồng) sự vật mới sinh sôi phát triển.

Mưa tạo ra sự nảy nở, nên như một sự tất yếu lại có mã văn hóa gắn liền với tín ngưỡng phồn thực còn sinh động, thú vị hơn nhiều lớp nghĩa hiện thực ban đầu.

Khởi nguyên ở phương Tây là câu chuyện liên quan đến thần Zeus trong văn hóa Hy Lạp cổ. Công chúa Danae con gái vua Acrisius là người đẹp nổi tiếng. Nhận được lời sấm không có người nối dõi, nhưng con gái sẽ sinh được con trai và đứa cháu này sẽ giết chết ông ngoại, vua Acrisius hoảng sợ bèn nhốt Danae vào một căn phòng bí mật, kín đến mức chỉ có nguồn sáng le lói từ vết nứt mái vòm. Zeus bèn hóa thành một cơn mưa vàng rơi xuống bụng Danae. Nàng mang thai rồi sinh ra Perseus. Vua Acrisius lại nhốt Danae và Perseus sơ sinh vào một cái hòm rồi thả xuống biển. Zeus nhờ thần biển Poisedon cho họ dạt vào hòn đảo.

Lớn lên biết được mọi chuyện, Perseus cố tránh xa vương quốc ông ngoại. Chàng tham dự thế vận hội đang được tổ chức tại thành Larissa. Số phận thật trớ trêu, tại đây vua Acrisius cũng đang tham dự với tư cách khách mời. Ngọn lao của Perseus lạc đường vô tình bay trúng đầu Acrisius. Lời sấm thành sự thật...

Từ đó thuật ngữ "cơn mưa vàng" trở thành ẩn dụ để chỉ hành động những cuộc giao phối sẽ sinh nở ra tài năng, thần thánh. Trong nhiều từ vựng châu Âu, châu Mỹ, mưa đồng nghĩa với tinh khí (làm thụ thai), với hạt giống, với sữa mẹ, với cả máu. Người Sumer cổ tin rằng mưa là tinh dịch của thần bầu trời (An) rơi xuống để thụ tinh cho vợ là nữ thần trái đất (Ki). Thần Ki sinh ra mọi cây cối, hoa màu.

Người Akkad lại cho rằng mây là ngực còn mưa là sữa của nữ thần Antu, cây cối được uống sữa này mới tươi tốt… Mưa đồng nghĩa với hạt giống, tinh khí, sữa thì dễ hiểu. Còn với máu? Lại gắn liền với nghi lễ hiến tế cổ xưa (thường là giết các con vật lấy máu hiến tế. Vì có gì quý hơn và tinh khiết hơn máu đâu. Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên trước đây cũng thuộc loại nghi lễ này) của vùng văn minh nông nghiệp nguyên thủy cầu xin mùa màng tươi tốt!

Mưa rơi ở các chân trời văn hóa! -0
Thần Zeus và cơn mưa vàng ái ân!

Không nằm trong quy luật tiếp biến văn hóa nhưng có thể do tương đồng cùng một mẫu số chung về ước mơ khát vọng mà phương Đông cũng có khái niệm "mưa" để chỉ hành động tính giao của người. "Truyện Kiều" - một câu chuyện tình tất nhiên có thuật ngữ này: "Một cơn mưa gió nặng nề/ Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương" (câu 847, 848). Câu này tả cảnh Mã Giám Sinh chiếm đoạt thân thể Kiều đầy thô bạo. Cô Kiều rơi vào nhà chứa phải chịu cảnh hoa nguyệt, nguyệt hoa: "Mặc người mưa Sở mây Tần/ Những mình nào biết có xuân là gì" (câu 1239,1240).

Thuật ngữ "mây mưa" chỉ hành động trai gái giao hoan vốn có từ thành ngữ cổ "mưa Sở mây Tần" được rút gọn. Truyện rằng vua nước Sở du ngoạn nước Tần, ban ngày ngủ nằm mơ gặp thần nữ xinh đẹp đa tình tự nguyện hầu hạ chăn gối. Tích truyện xa với đời sống nên được "hợp lý hóa" bằng cách rút gọn lại cho phù hợp với chuyện sinh sản nhờ mưa... Đến tận ngày nay, trong ngôn ngữ Ấn Độ người phụ nữ mắn đẻ vẫn được gọi là mưa!

Nếu nắng thuộc dương thì mưa thuộc âm. Mưa tác động trực tiếp đến năng lực sinh sôi, phát triển, nên không chỉ trong văn hóa Việt mà ở nhiều nơi vị thần chuyên chủ về mưa thường là phái nữ.

Vì là biểu tượng cơ bản, quan trọng nhưng phân cực hai mặt, mưa quá ít hoặc quá nhiều đều không tốt đến việc trồng cấy mà phải "mưa thuận gió hòa" nên đã chi phối đến mỹ cảm người Việt cũng như của văn minh nông nghiệp là ưa sự hài hòa, nhỏ nhắn, thanh mảnh. Nhỏ mà hài hòa tốt hơn nhiều cái hoành tráng đồ sộ nhưng thiếu cân đối. Ngay với mưa, người ta cũng thích mưa nhẹ, vừa phải hơn là "mưa dầm dề", "mưa như trút"... Mưa quá nhiều sinh ra lũ lụt thì lại thành một thứ "giặc" nguy hiểm, thậm chí "đầu bảng" (thủy, hỏa, đạo, tặc). Vì lưỡng tính như vậy nên mưa cũng có 2 vị thần cả nam, cả nữ.

Theo cực dương, truyện cổ dân gian kể thần Mưa hình rồng, hút nước ở sông biển rồi bay lên trời phun nước làm mưa. Thần có tính hay quên nên có vùng cả năm hạn hán; có nơi thần lại đến luôn luôn thành ra lụt lội. Vì quá nhiều việc, thần Mưa không làm hết nên Trời mở một cuộc thi chọn các loài thủy tộc tài năng để biến thành rồng. Cuộc thi hóa rồng này ở cửa Vũ (Vũ môn): "Mồng ba cá đi ăn thề/ Mồng bốn cá về cá vượt Vũ môn". Lại có nơi hạn hán kéo dài nên các con vật gồm Cóc, Gấu, Cọp, Cua, Gà, Ong lên thiên đình kiện mà có câu ca: "Con cóc là cậu ông trời/ Ai mà đánh nó thì trời đánh cho".

Theo cực âm, "Truyện Man Nương" giải thích: Thời Sĩ Nhiếp có người con gái đẹp tên A Man theo học Phật pháp. Một ngày nàng ngủ quên trước cổng chùa, sư Khâu Đà La đi về không nỡ đánh thức bèn bước qua người. Man Nương có thai sinh ra được một bé gái. Sư Khâu Đà La đặt đứa bé vào trong một thân cây rồi đưa cho Man Nương một cây trượng, dặn khi nào hạn hán thì cắm xuống đất. Đến năm đại hạn, Man Nương làm theo lời dặn thì nước tuôn ra xối xả. Dân chặt cây gỗ có đứa bé bên trong chỉ thấy một khối đá liền lấy đá tạc bốn pho tượng gọi là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện chia cho bốn chùa để thờ, cầu mưa rất linh ứng. Dân gọi Man Nương là "Phật Mẫu" (mẹ của Phật). Hàng năm, ngày Mẫu mất, dân mở hội cúng tế.

Tín ngưỡng Tứ pháp là sự kết hợp giao hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian. Những nữ thần nông nghiệp của người Việt cổ đã được Phật hóa trở thành những vị Phật Bà cho thấy văn hóa Việt rất đề cao người nữ!

Nghi thức cầu mưa có trong nhiều nền văn hóa. Ngày nay nước Mỹ văn minh đưa người lên cả vũ trụ nhưng vẫn có nơi (bang Texas) thường tổ chức nghi lễ này rất hoàng tráng. Thì ra dù ở không gian nào, tín ngưỡng cũng có sức sống rất mạnh, bền bỉ.

Ở nước ta nghi thức lễ hội cầu mưa được ghi nhận còn khá đầy đủ, chi tiết là của dân tộc X'tiêng (tỉnh Bình Phước). Đồng bào tổ chức để tri ân các vị thần Bra Ân - Bra Trốk (thần Trời), Bra ter (thần Đất), Bra va (thần Lúa)… đã cho nguồn nước quý giúp dân làng gieo trồng đúng mùa vụ, cái chum, cái ché đầy nước, thóc gạo đầy bồ.

Có một nét chung cho cả thế giới: Vì quan niệm mưa gắn liền với thần thánh nên chủ tế các lễ hội đều phải "trai giới" chay tịnh, kiêng khem thật trong sạch thì cầu mưa mới linh nghiệm!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).