Một người thơ ấm nồng và lặng lẽ

Cũng từ những gì Nguyễn Quang Hưng viết ra, luôn cho thấy anh là người giàu nội lực, tinh nhạy với nhiều vấn đề của đời sống. Ngay tập thơ "Mùa biến động" (NXB Hội Nhà văn, ấn hành tháng 8/2020), được nhà thơ viết trong phần lớn những ngày cả nước phải gồng mình với dịch COVID -19 cũng đã thể hiện điều này.

Trong hình dung của tôi, nhà thơ Nguyễn Quang Hưng bao giờ cũng mang gương mặt, dáng vẻ thật tận tụy và nồng ấm. Ở những cuộc gặp gỡ, chuyện trò, ngao du đây đó, anh giữ trong tay cuốn sổ nho nhỏ, lặng lẽ quan sát và ghi chép. Hầu hết tác phẩm báo chí, văn chương của anh đều được bắt đầu từ đó. 

Cũng từ những gì Nguyễn Quang Hưng viết ra, luôn cho thấy anh là người giàu nội lực, tinh nhạy với nhiều vấn đề của đời sống. Ngay tập thơ "Mùa biến động" (NXB Hội Nhà văn, ấn hành tháng 8/2020), được nhà thơ viết trong phần lớn những ngày cả nước phải gồng mình với dịch COVID -19 cũng đã thể hiện điều này.

Nhà thơ Nguyễn Quang Hưng.
Nhà thơ Nguyễn Quang Hưng.

Tập thơ dày dặn với 54 bài, chia thành sáu phần: "Những ngày F", "Giả tưởng nhiệt", "Xoay xoáy phố", "Chuỗi cộng hưởng chóng mặt", "Lên trước không trung", "Ánh nhìn nhận diện". Bất ngờ hơn, đây là "đứa con tinh thần" thứ 11 của anh sau các tác phẩm: "Vườn ánh sáng" (thơ, NXB Hội Nhà văn 2018), "Mùa Vu Lan" (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2011), "Tiếng hạc trong trăng" (ký chân dung, NXB Thanh niên, 2011), "Lòng ta chùa chiền" (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2013), "Chia ngũ cốc" (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015), "Nước non mặt biển" (trường ca, NXB Lao động, 2015), "Năm tháng mặt người" (tản văn, NXB Phụ nữ, 2016), "Cột mốc trong người" (thơ, NXB Quân đội nhân dân, 2017), "Nối những vệt không gian" (tản văn, NXB Văn học, 2019), "Gió ngũ sắc" (thơ, NXB Văn học, 2019).

Sinh năm 1980, tuổi đời còn khá trẻ, Nguyễn Quang Hưng đã đoạt được những giải thưởng văn chương đáng chú ý: Giải Nhì cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ quân đội (2015 - 2016), giải khuyến khích Văn học nghệ thuật của Bộ Quốc phòng (2014 - 2019), giải Nhì cuộc thi "Thơ ca và nguồn cội" làng Chùa (2006 - 2007)… Từng ấy dữ liệu đủ toát lên phần nào sức đi, sức ngẫm và sức viết đáng trân trọng.

"Sao tôi không thấy núi/ Chỉ cây lớn lên che khuất núi rồi/ Mỗi cái cây tự thân như núi nhỏ/ Nuôi giấc mơ cổ thụ trong người", đó là những câu thơ ngay khi lật giở trang đầu tiên của "Mùa biến động", bạn đọc sẽ gặp. Cái "giấc mơ cổ thụ" ấy dường như đã hiện hữu trong Nguyễn Quang Hưng từ những năm tháng xa xăm nào đó và nó luôn được bộc lộ qua chân dung thường nhật và chân dung tác phẩm của anh. 

Trong "Mùa biến động", nhà thơ thể hiện lối quan sát tinh nhạy, đầy chất hình tượng từ hiện thực bộn bề, hoang mang của cuộc sống. Toàn xã hội phải giãn cách, cách ly, có nơi bị phong tỏa vì dịch bệnh… là một trong những trải nghiệm khó quên và nhiều ám ảnh. Bối cảnh ấy, liệu người ta còn nghĩ được gì và nói nổi điều gì có ý nghĩa, đủ sức lay động hoặc thay đổi được nhau? Bằng ngôn ngữ thơ ca, Nguyễn Quang Hưng nhiệt huyết giãi bày, bộc lộ lối ngẫm, lối đi rất riêng.

Khi biến động của đời sống ngoài kia như "Một tiếng gõ ung dung chờ đột nhập" thì người thơ nhận ra mình đã ở vị trí chông chênh, bất trắc nhưng đôi cánh tưởng tượng vẫn mặc nhiên cất cao hình dung: "Từ trên những triền dốc mới này/ Khi trước mặt đã hun hút/ Anh có bay lên được không!" (Tự vấn trong cuộc đua với kẻ giấu mặt). 

Nhiều người nhận ra chính bản thân, những người chung quanh mình khi đọc thơ Nguyễn Quang Hưng viết trong mùa giãn cách. Đó có thể là những bi kịch quen thuộc, trùng lặp khi con người không chịu "đi vắng" khỏi cuộc vui: "Bi kịch đến khi tôi không chịu im lặng/ Tôi đòi được đến và ca hát/ Tôi có dám ngồi yên một chỗ/ Đến khi ai cũng tin tôi đã đi vắng lâu rồi?" (Nói chuyện với mình mùa biến động), hay lúc nằm bất động trong héo khô hun hút: "Tôi tưởng tượng người mùa cách ly/ Nằm thở u buồn nghe bốn phía/ Thân mình dán xuống hình giấy khô/ Trên vải giường hút sâu thăm thẳm", "Và tôi lặng đứng nghe tin mới/ Bốn chung quanh người đang vượt lên/ Bao người chưa bệnh sao vẫn thấy/ Quý hơn cuộc đời yêu quý này!" (Nghe một người vừa khỏi). 

Lắm khi, đến con phố vắng bất thường cũng lóe lên thi ảnh thật mơ hồ, ma mị: "Tôi lơ mơ về muộn phố không người/ Sau gáy gió một luồng hơi cảnh giác/ Hình như tôi đang đi trên thân mình/ Vừa chuyển động một con rồng ngủ lạnh" (Tôi thấy một con rồng ngủ lạnh). 

Có những hình ảnh quen thuộc đến mức bình thường, nhưng khi được thấu cảm tất sẽ khiến ai kia "ồ" một tiếng trước tầng nghĩa triết lý: "Cộng một ngày tắc đường thôi/ Hình như tổng thời gian của chúng ta/ Đã bằng mấy đời người…". (Trên đường tắc đường). 

Giản dị hơn, nhẹ nhõm hơn là điểm xuyết ý nghĩ dị biệt, bay bổng: "Nhìn mỗi đám mây tôi vươn dần cổ/ Người dài mãi lên hóa một cầu vồng" (Mỗi đám mây tôi thấy một người). Muôn mặt đời sống bị xô lệch, méo mó, âu lo qua thơ Nguyễn Quang Hưng đau đáu niềm đồng cảm, thấu hiểu từ tận sâu bản ngã: "Những mặt khuất sau khẩu trang ngày thường/ Mặt che kín trên đường xa lạ/ Nhưng tôi biết những giọt mồ hôi/ Những trán đỏ bừng mệt như ngã gục" (Mặt người sau khẩu trang). 

Và rồi, sau cùng, dãi dầu cho hết hành trình bức bối ấy, ta gặp lại niềm lắng sâu đang ngấm ngược vào lòng chầm chậm, mênh mang. Ấy chính là cảm xúc người thơ dành để "nghĩ thêm về lý do mưa đến" sau chuỗi ngày kiệt khô, khan đặc vì nắng.

Bìa tập thơ "Mùa biến động".

Bìa tập thơ "Mùa biến động".

Mỗi tác phẩm là một nhịp bước, một đổi khác của Nguyễn Quang Hưng nhưng sợi dây xâu chuỗi chính là niềm hoài cổ, chờ mong, day dứt và ráo riết khám phá chiều sâu trong bản thể con người, đời sống. 

Ngay ở "Mùa biến động", người đọc đã phải sững sỡ, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp như phủ màn sương kỷ niệm của phố Hàng Mành - nơi gia đình anh gắn bó: "Thưa thưa một hai xưởng nhỏ/ Mùi cao su người thợ cắt dép/ Rêu rêu mùi thốc nhờn ống thoát nước/ Bám vào tóc tôi khi nào", "Vài ghế nhựa gom mặt hè hắt sáng/ Ánh mắt lẳng lặng từng mùa đông lá rơi", "Những người già đêm nghĩ mình nhỏ lại/ Tiếng cười đâu đó chạy chơi/ Những tất niên thắp hương đứng im". 

Anh gọi đó là "mảnh phố". Những mảnh sáng ấy cứ nhói lên như nắng khiến ngay cả khi viết về nỗi buồn, về sự mất mát cũng lóng lánh hào quang. Như thể từng mặt người thân năm nào xa khuất mãi còn nguyên đấy, như chưa từng có thời khắc họ dời đi. 

Nhiều lần, trong cả văn và thơ Nguyễn Quang Hưng, hình ảnh người cha trở đi trở lại: "Đêm cuối những ngày cuối ngột ngạt/ Con tìm bố nghe buồn tàn thu/ Khẽ chạm cơn hôn mê cựa mình/ Bố nhớ ai cùng sương gió?" (Đêm ấy tàn thu). Người cha, người nhắc nhớ con cháu về lẽ sống: "Hát như nốt nhạc phải vang lên!/ Như kim phải thêu!/ Như người phải sống bằng thương mến!". 

Tình cảm hiếu thuận còn thể hiện qua những câu thơ anh viết cho bố vợ: "Con bắt đầu thấy bố sẽ già như bố con/ Con bắt đầu không ưa thời gian gặm nhấm", "Có thể chăng đau khổ ngọt ngào/ Của lẽ sống gia đình máu thịt/ Của phút sống phải nghĩ điều mới lạ/ Bằng yêu thương trên bút khô gầy?". Nguyễn Quang Hưng luôn đau đáu, vẹn toàn và nặng lòng thương mến. Lẽ sống ấy đẹp đẽ như nốt nhạc, như đường chỉ thêu nhóng nhánh xa xăm. 

Thơ anh, Hà Nội bao giờ cũng đầy ám gợi với phố Hàng Gai: "Những chuyện những nhà quê xa tụ đến/ Đan bện dây nối lớp lớp người", "Cửa gỗ tối thoảng mùi hương/ Nay đã động run run mùi khói", "Những trầm sâu câu nói làm chỗ dựa/ Phố xá bay lên còn níu giữ cho người" (Như phố Hàng Gai). Chỉ người thuộc về phố như là định mệnh, người yêu phố như lần lẫn trong nhau mới vỡ ra một nhẽ: "Ngay cả quay lại cũng phải biết nhận đường/ Tôi đi theo hàng cây những tiếng chuông còn mọc" (Bát phố). 

Nhịp điệu thơ Nguyễn Quang Hưng rất đặc biệt. Đó là nhịp tim. Là nhịp bước. Là muôn nhịp thong dong: "Những ô cửa tháp Rùa những mắt/ Luôn nhìn tôi khiến tôi ngoái nhìn hồ/ Bao lớp người xa lòng còn ngoái lại?" (Bách bộ hồ).

Nếu để chọn ra chân dung gần nhất với Nguyễn Quang Hưng, theo ý nghĩ chủ quan của mình, tôi sẽ rút ra những câu thơ của chính anh khi kể "Chuyện sông", khi "Vắng mặt phố": "Ta tự làm người đi gom nhặt chuyện/ Kể trên dòng sông mây trắng không trung", Tôi không sợ chim thần không về nữa/ Chỉ lo lòng mình đã thiếu một khu vườn".

Khép lại "Mùa biến động" là cảm hứng vạm vỡ với "Những cửa sông mọc lên khúc hát/ Vạn bước đi mở biển đến chân trời" (Trong đất Thủy Nguyên), khi "Mỗi người chúng ta một lần làm sứ giả/ Ngày ngày nói tiếng biển Đông" (Những kẻ nuốt đất). 

Điều thú vị luôn thấy ở tác phẩm của Nguyễn Quang Hưng chính là quan điểm, xúc cảm nhân văn, bền bỉ xuyên suốt, ngay cả khi anh tiếp cận mảng đề tài gai góc, nhiều người đang nói đến bằng ngôn ngữ thời sự nóng hổi. Cách anh mềm hóa, thi vị hóa từng chi tiết, câu chuyện tạo ra hình dung, thơ anh, lửa đang hòa vào nước. Nỗi mát lành đang quyện vào ấm áp, niềm mãnh liệt đang chở theo dịu lắng, ngọt mềm. 

Nguyễn Quang Hưng là thế. Ta luôn gặp ở anh thái độ sống và viết khiêm nhường mà cháy bỏng, chắt chiu mà gần gụi, cứ thế thâm trầm chu du trong sâu đậm tháng năm.

Lữ Mai

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).