Một nghiên cứu thú vị về Việt Nam của tác giả Mỹ

Tác giả Mỹ Michitake Aso đã bỏ ra 10 năm để có được công trình nghiên cứu "Cây cao su ở Việt Nam dưới góc nhìn Lịch sử - Sinh thái 1897 - 1975", giúp độc giả hiểu thêm về một hành trình từng đúc kết thành câu ca "cao su đi dễ khó về/ khi đi trai tráng khi về bủng beo".

Tác giả Michitake Aso là tiến sĩ sử học về môi trường toàn cầu, tâp trung vào mảng đề tài về nông nghiệp và y tế ở Pháp và Việt Nam trong các thế kỷ 19, 20. Ông tham gia nghiên cứu và giảng dạy tại Đại học Albany và Đại học Texas - Austin (Mỹ), Đại học Quốc gia Singapore và Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Đại học Kyoto (Nhật Bản).

Tác giả Michitake Aso nói về lý do dành 10 năm nghiên cứu về cây cao su ở Việt Nam: "Đồn điền đã trở thành một biểu tượng mẫu mực của cả xã hội nô lệ và dân tộc tự do. Chúng ta sẽ không thể hiểu lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 20, mà không tìm hiểu những tác động của các đồn điền lên môi trường sống của người và sức khỏe con người".

tac gia michitake aso.jpg -1
Tác giả Michitake Aso.

Trước đây từng có cuốn sách khá nổi tiếng về cây cao su, do người Việt Nam viết, là tác phẩm "100 năm cao su ở Việt Nam" của Đặng Văn Vĩnh. Tác giả Michitake Aso không chỉ tham khảo tác phẩm nói trên, mà còn sang Việt Nam để gặp gỡ những chuyên gia về cao su và phong thổ Nam bộ như Phạm Thanh Hòa, Hồ Sơn Đài, Huỳnh Lứa, Nguyễn Văn Lịch, Trần Quang Toại, Phạm Văn Hy, Mạc Đường... để có thêm dữ liệu hoàn thành công trình "Cây cao su ở Việt Nam dưới góc nhìn Lịch sử - Sinh thái 1897 - 1975".

Cuốn sách "Cây cao su ở Việt Nam dưới góc nhìn Lịch sử - Sinh thái 1897 - 1975" xuất bản tại Mỹ, tạo ra hiệu ứng xã hội không nhỏ, được trao Giải thưởng Henry A.Wallece của Hội Lịch sử Nông nghiệp năm 2018 và Giải thưởng Charles A. Weyerhaeuser của Hội Lịch sử Rừng. Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh vừa mua bản quyền để giới thiệu cuốn sách "Cây cao su ở Việt Nam dưới góc nhìn Lịch sử - Sinh thái 1897 - 1975" tại Việt Nam, nhằm giúp công chúng hiểu thêm về cây cao su có nguồn gốc từ rừng Amazon đã đến nước ta như thế nào.

Tác giả Michitake Aso khi thực hiện "Cây cao su ở Việt Nam dưới góc nhìn Lịch sử - Sinh thái 1897-1975" đã chọn lối thuật chuyện, đi từ giai đoạn thực dân Pháp xâm lược đến thời kỳ quốc gia Việt Nam hậu thuộc địa. Cuốn sách cho thấy những thay đổi trong mối liên hệ giữa khoa học, tư bản tư nhân và chính phủ đã tác động như thế nào đến dự án thuộc địa về phát triển kinh tế. "Cây cao su ở Việt Nam dưới góc nhìn Lịch sử - Sinh thái 1897-1975" mở đầu bằng câu chuyện về bác sĩ Yersin (1863-1943). Nhiều người khâm phục sự đóng góp của Yersin đối với lĩnh vực y học, nhưng ít ai nhận thức đầy đủ đóng góp của Yersin với lĩnh vực nông nghiệp. Yersin có thể xem là một trong những người đầu tiên trồng cao su ở khu vực Suối Dầu ngoại ô thành phố Nha Trang.

Giai đoạn quản lý Viện Paster, Yersin nghiên cứu về sản xuất cao su từ giống hevea. Thế nhưng, ông không chỉ quan tâm đến phương diện khoa học của nền nông nghiệp nhiệt đới mà còn xem cao su là nguồn tài chính hỗ trợ cho các hoạt động khác của Viện Paster, và dần dần mở rộng diện tích canh tác cây cao su ở đồn điền Suối Dầu. Vào năm 1897, Yersin nhận 200 cây con từ Vườn Bách thảo Sài Gòn. Năm 1900, Suối Dầu có khoảng 30 ha đất canh tác cao su, sau đó tăng lên 307 ha vào năm 1914.

Thời điểm tiếp theo, Yersin không phải là người duy nhất sử dụng cây cao su để tăng thêm nguồn thu nhập. Vào những năm 1920, một loạt các tổ chức lớn, từ Hội Thừa sai Paris tới Nhà thương điên Biên Hòa, cũng trồng cao su. Yersin cũng nhận thức được mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu thụ, bắt đầu hợp tác với công ty Michelin. Vào năm 1905, Michelin trả Yersin 28,5 franc cho 1,316 ký cao su được lấy mủ lần đầu từ đồn điền Suối Dầu. Vào thập niên 1940, mỗi năm đồn điền này đã sản xuất 100 tấn mủ khô, một con số bé nhỏ so với tổng sản lượng của toàn Đông Dương, nhưng cũng đủ để Yersin chi trả kinh phí cho các hoạt động của Viện Paster.

Tác giả Michitake Aso chứng minh, sự có mặt của cây cao su được chính quyền thực dân Pháp chú trọng và đưa ra nhiều văn bản chỉ đạo chặt chẽ. Nghị định năm 1891 đã chỉ rõ tầm môi trường đối với sinh vật sống. Ví dụ, điều 63 liệt kê những lý do để bảo tồn rừng, bao gồm 6 điểm. Thứ nhất, để giữ đất ở sườn núi. Thứ hai, để bảo vệ đất chống lại xói mòn do sông suối. Thứ ba, để duy trì nguồn nước. Thứ tư, để bảo vệ các cồn và bãi cát khỏi sự tác động của đại dương. Thứ năm, để bảo vệ biên giới, lãnh thổ. Thứ 6, để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Bốn lý do đầu tiên có liên quan mật thiết đến sự điều tiết của rừng đối với môi trường và khí hậu địa phương. Lý do thứ năm, xem rừng là yếu tố ngăn chặn sự tấn công từ kẻ địch. Trong khi đó, lý do thứ sáu cho thấy, vai trò của rừng với vùng nhiệt đới là có lợi cho con người.

sach cao su.jpg -0
Cuốn sách "Cây cao su ở Việt Nam dưới góc nhìn Lịch sử - Sinh thái 1897 - 1975".

Ban đầu, các chủ đồn điền tránh né khoa học về sinh thái, nhưng sau này, nhờ ngày càng hiểu biết sâu sắc hơn mà đồn điền trở thành nơi được ưu tiên để khảo sát sự chuyển đổi từ sinh thái học thuộc địa sang sinh thái học nhiệt đới. Các đồn điền cao su là những phòng thí nghiệm, trong đó sự kiểm soát đối với con người và các loại bệnh trên cây trồng được thử nghiệm và ứng dụng trên địa thế vùng Đông Dương.

Chủng tộc là khái niệm then chốt trong việc sử dụng sự kiểm soát đó, và trong thập niên 1910, kiến thức y sinh học nổi bật về bệnh sốt rét được kết hợp với sự phát triển của công nghiệp hóa nông nghiệp để hình thành nên những ý tưởng về chủng tộc. Khi mà những kỹ thuật nông nghiệp xác định đặc điểm của người bản địa và người châu Âu, thì việc có hay không có ký sinh trùng plasmodia gây bệnh sốt rét thường được cho là điểm khác biệt giữa người Kinh, Khơ Me với người Thượng. Một số người và nhóm dân cư nhất định đã trở thành mục tiêu của các chương trình quốc gia. Lao động ở đồn điền nhận được phần lớn nhất trong số những nguồn lực ít ỏi để chống lại bệnh sốt rét, nhưng phần lớn dân cư nông thôn không được chăm sóc sức khỏe.

Trong sự hình thành và phát triển của cây cao su ở Việt Nam, không thể không nhắc đến việc chăm sóc tinh thần cho người lao động ở các đồn điền. Cuốn sách "Cây cao su ở Việt Nam dưới góc nhìn Lịch sử - Sinh thái 1897-1975" hé lộ sự tuyên truyền của các chủ đồn điền tập trung vào cả tiện ích vật chất và các mối quan hệ xã hội.

Một tờ nguyệt san có tên Liên lạc đã nhấn mạnh các khía cạnh "thiên đàng" trong đời sống của công nhân. Nguyệt san Liên lạc đã phát hành ít nhất 30 số, trong khoảng thời gian từ tháng 1/1952 đến tháng 7/1954, và được in tại nhà in chính thức của chính phủ ở Sài Gòn. Tiêu đề phụ của nguyệt san Liên lạc là "cơ quan thông tin giữa các đồn điền cao su miền Nam và miền Bắc Việt Nam". Mỗi số nguyệt san đều dành nhiều "đất" để đăng tải những lá thư ngắn từ công nhân đồn điền gửi cho người thân của họ ở các tỉnh phía Bắc.

Nhiều lá thư khá cảm động, trong thư cam đoan với các ông bố bà mẹ rằng người viết thư vẫn còn sống và sau đó hỏi thăm sức khỏe cô dì chú bác. Những dòng tâm sự trong các lá thư đến từ những thợ nhà máy có chút học vấn cho đến những người thợ cạo mủ hầu như không biết chữ. Có lý do để cho rằng, những người đầu tư cho tờ báo có thể đã cố gắng tạo dựng sự tin cậy bằng cách tìm kiếm những người lao động thực sự cho những câu chuyện này. Song lại chẳng có bức thư nào phàn nàn về điều kiện sinh hoạt trong các đồn điền, ngay cả khi các cuộc đình công của công nhân tiếp tục diễn ra, nghĩa là nguyệt san Liên lạc do chủ đồn điền kiểm soát đã bị kiểm duyệt gắt gao.

Hành trình cây cao su ở Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm. Tác giả Michitake Aso đã có nhiều kiến giải, rất đáng để những người quan tâm đến cây cao su hôm nay phải tham khảo và suy ngẫm. Từ thập niên 1890 đến thập niên 1930, đất đai sẵn có với mức giá rẻ mạt khắp Đông Nam Á đã thúc đẩy các đồn điền mở rộng lấn vào đất rừng, và các nghiên cứu tập trung vào những kỹ thuật mở rộng này. Thêm nữa, trong thời kỳ thực dân, các nhà nghiên cứu ở Pháp chịu trách nhiệm về "các vấn đề nền tảng", còn các nhà nghiên cứu ở Đông Dương đảm nhận "các vấn đề ứng dụng".

Sau Thế chiến thứ hai, các nhà khoa học ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác vừa giành được độc lập phải thực hiện nghiên cứu cơ bản và tạo ra sự liên kết giữa lý thuyết và thực nghiệm nhằm gia tăng sản lượng cao su. Đến lúc đó, sau hàng loạt thập kỷ mở rộng, vùng trồng cao su cùng với việc sáng lập các chính quyền do những người theo chủ nghĩa dân tộc điều hành đã bắt đầu đóng cửa vùng biên giới trồng cao su. Và khi không còn chế độ kiểm soát của chính quyền thực dân nữa, thì đất đai miễn phí và lao động giá rẻ không còn dễ tìm. Các nhà nghiên cứu buộc phải chuyển trọng tâm sang vấn đề làm sao để thu được thật nhiều mủ trên mỗi hecta cao su.

Tuy Hòa

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).