Một mai gió chở tôi về

­Nhận tập thơ xinh xắn của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật tặng “Một mai gió chở tôi về” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành từ năm 2019, giữa lúc đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát. Thông điệp 5K, con người ta sống chậm lại. Đây là lúc thời gian ngưng đọng, nên mỗi ngày tôi chỉ đọc một bài thôi để đủ thời gian suy ngẫm, chiêm nghiệm cho hết từng câu chữ. Tìm được cái tứ của một bài thơ ông không phải dễ, mà nhiều khi đọc xong không hiểu hết ý tứ của ông.

Thơ của Hoàng Vũ Thuật là dòng thơ hiện đại và hậu hiện đại, đa tầng, đa nghĩa, có khi ý của câu thơ không thể nói hết trong lời. Đó là những “cây xanh ngoài lời”, những vỉa quặng mà độc giả muốn khai thác thì phải đồng hành cùng tác giả, chắt chiu những hạt kim cương, những hạt vàng ròng quý, hiếm, tinh hoa, tinh túy, theo cách riêng của mỗi người. Có người đọc hiểu, có người đọc không hiểu, có người thích, có người không thích, có người hiểu theo cách này, có người hiểu theo cách khác.

nhà thơ hoàng vũ thuật.jpg -0
Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật.

Tập thơ "Một mai gió chở tôi về" gồm 68 bài, là món ăn lạ, độc đáo nhưng chưa hẳn đã hợp với khẩu vị của từng người. Thơ ông viết theo lối tượng trưng, dùng hình tượng, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng, đa chiều trong trường liên tưởng, bẻ cong không gian, bẻ cong cả thời gian. Ông viết về cái tôi, cái cá thể, đơn độc, từ cái cụ thể nhỏ bé đến cái mênh mông, vô cùng, vô tận của vũ trụ, trước và sau thế giới hiện tại ông đang viết, đang sống, một nghìn năm.

Không gian nghệ thuật thơ của Hoàng Vũ Thuật là liên kết từ thực đến ảo: “Người ta không nỡ nói hết những gì cuộc đời đã dành cho ông/ định mệnh con giun con dế/ tuổi thơ phải vác trên vai cây thánh giá/ trong danh sách đồng loài/ ông không có tên/…/ một buổi sáng cuối năm 3017 ông được hồi sinh/ khi tạo hóa muốn cho ông làm người/ mây trắng lững thững trên đầu/ cỏ quàng vai dưới đất/ ông khoác áo cây thông kiêu hãnh lưng chừng núi cao/ xem sách mong gặp Rô-mê-ô và Giu -li-ét/ đội cái mũ chàng Hăm- lét/ khi ý nghĩa sống trở về/ ông đứng lên bằng ánh sáng trái tim mặt trời ấm áp tinh khôi/ đi lại đôi chân cha mẹ cho mình/ niềm vui sướng trong vòng tay tạo hóa/ sau/ một/ nghìn/ năm” (Hồi sinh).

Thơ ông nảy sinh trên nền hiện thực, sau đó là tưởng tượng, hư cấu nên không gian ảo. Bởi vậy người đọc phải tưởng tượng cùng ông. Khi viết “Thuyết tương đối”, Albert Einstein đã miêu tả cấu trúc của không gian và thời gian trong một thực thể thống nhất. Bản chất của lực hấp dẫn là do sự uốn cong của thời gian, không gian bởi vật chất và năng lượng. Thơ Hoàng Vũ Thuật cũng thế. Ông uốn cong không gian và thời gian trên trường liên tưởng không thời gian.

Trong bài “Trí tưởng tượng”, ông viết: “Từ biển mọc lên mặt trời nước/ ánh sáng rơi từng sợi/ làm anh nhớ phố tuyết đã xa/ những con đường lạnh buốt ký ức/ em lung linh ngọn nến trong cung điện mùa đông/ khoác áo màu dạ thảo/ chiếc lông chim trên mũ kiêu hãnh/ như lá cờ vẫy gọi”. Nhà phê bình văn học, Tiến sĩ Mai Bá Ấn đã từng nhận xét: “Đâu chỉ có không gian dãy phố mà Hoàng Vũ Thuật còn mở các chiều kích của không gian và xen kết không gian thực với không gian ảo”.

Trong bài thơ “Sự nhầm lẫn của người đãng trí”, Hoàng Vũ Thuật có những câu thơ mang đầy tính triết lý: “tôi chỉ là bong bóng bước ra từ cuống họng/ bay vô định/ tan cũng vô định/ bởi giữa tôi và em hai thân thể hai bó đuốc chỉ cần một que diêm là đến bờ hố đen/…/ có một con chim trên tóc em vẫn hót/ mặt trời khôi phục ánh sáng ngày/ rút từ đêm xõa trắng/ mặt trời trong mắt em bừng thức/ bấy giờ mới nhận ra tôi cùng cái bí ẩn từ một búng tay/ em nói cuộc chạy trốn trên những chiếc gai nhọn/ đã kết thúc”. Thật vậy. Chỉ cần một que diêm là hai thân thể bùng cháy và tan biến để còn lại bóng đêm. Trong không gian là tóc em thì có một con chim thời gian vẫn hót lảnh lót để khôi phục ánh sáng ngày, để Đại vũ trụ là mặt trời thu lại trong Tiểu vũ trụ là mắt em.

Thơ Hoàng Vũ Thuật nói nhiều về tình yêu, giữa anh và em, giữa thơ truyền thống đến cách tân hiện đại, mang dấu ấn hậu hiện đại. Đó là không gian mở, tác giả đi ra từ ngôi nhà nhỏ, từ ô cửa nhỏ ra vũ trụ rộng lớn. Từ dòng sữa của ca dao - dân ca: “dòng phấn trắng như rãnh mòn/ di chuyển trên mặt đất/ long lanh tia nắng ban mai/ dòng phù sa nghìn năm đắp bồi cánh đồng/ dòng sữa ngọt vành môi sinh nở/ cánh cò vẽ khung trời bình yên/ từ tay chị bước ra”. (Dòng phấn trắng). Đến “đám bụi mù sau trận cuồng phong/ vết tích đất trời để lại/ tôi đã gặp chú gấu trong cổ tích/ chùm chìa khóa rơi vào chốn hoang đường/ mọi thứ đều xa lạ/ niềm tin / chỉ có một mà thôi/ khi đứng giữa cơn ghen vô cớ của mặt trời” (Cơn ghen của bầu trời).

9c04cfe7-df88-4f43-ba6d-222f48f91b61.jpg -0
Bìa tập thơ “Một mai gió thổi tôi về” của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật.

Trong “Một mai gió chở tôi về”, có khá nhiều bài thơ nói lên khát vọng hòa bình, khát vọng tự do, tình yêu cuộc sống. Đó là các bài thơ: “Thời gian”; “Dự cảm”; “Ga lẻ”; “Người hành khất”; “Thở”… Nhân xem một bức ảnh bác sĩ trẻ người Cu Ba lấy đầu bịt họng súng ông đã thay lời bác sĩ ấy viết: “tao biết mày có mặt trong cuộc đời này từ lâu/ cả những điều mày thích nhất/ máu và nước mắt/ khi mày khạc ra lửa/ hàng triệu người ra đi/ hàng triệu đôi chân trên nạng gỗ/ sự khổ đau cho mày lên ngôi/…/ Tao cũng gặp mày với cái cổ xoắn cong trên tượng đài nước Mỹ/ các làng quê thành phố Việt Nam/ bàn chân mày trải khắp/ như ngày xưa cha ông đi tìm đất hứa/ có một điều mày không bao giờ hiểu/ không bao giờ thấy/ không bao giờ biết/ vì tao đưa đầu lọt trong cổ họng mày/ tao chỉ muốn nòng súng kia/ biến thành chiếc bình xanh biếc/ để cắm vào nơi đó những bông hoa” (Nói với họng súng).

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật viết “Một mai gió chở tôi về” theo lối thơ tự do, có khi câu đơn chỉ một từ, có khi là thơ văn xuôi như một tản văn: “Mấy hôm nay mưa nhẹ, không gian tĩnh mịch dịu dàng. Tôi biết mùa thu thực sự đã về. Tôi có ý định và chắc chắn khó níu được chân mùa thu. Dù, với tôi mùa thu trong sáng đến nhường kia, sâu thẳm đến nhường kia, ngọt ngào đến nhường kia…” (Mùa thu ơi).

Hầu hết thơ của Hoàng Vũ Thuật không có một chữ nào viết hoa, trừ những danh từ riêng, trừ những bài thơ văn xuôi. Thơ của ông là sự tiếp nối hài hòa, uyển chuyển của Thơ mới từ thời tiền chiến với Lưu Trọng Lư, "con nai vàng ngơ ngác" và những bế tắc trong nhạc hậu chiến của Trịnh Công Sơn rồi đến ngày nay, vươn ra cả thế giới. Nói như Tiến sĩ Mai Bá Ấn: “Thơ anh như con sóng lan tỏa sang cả những liên văn bản của văn học thế giới như Quách Mạt Nhược, Victor Hugo... v.v.”.

Theo nhà giáo Vi Huyền Vi thì “trong “Một mai gió chở tôi về” bàng bạc một giọng điệu trữ tình, một góc khuất thân phận, đời thường trong tình cảm con người. Góc khuất ở đây chính là cảm quan về tình yêu, niềm vui và nỗi buồn rất cá thể giản đơn và gần gũi, phản chiếu con người ông, từ đó nhìn thấy thế giới rộng lớn đang trải trong thơ. Giải mã được vấn đề này là tìm được chìa khóa vạn năng để mở ra cánh cửa thơ Hoàng Vũ Thuật”. Muốn giải mã được thơ Hoàng Vũ Thuật phải có chìa khóa. Trong văn chương Việt, việc mở được cánh cửa thơ để đi ra thế giới cũng gian nan lắm. Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ tiên phong đi đầu trong việc cách tân thơ ở Quảng Bình. Con đường thơ của ông đầy chông gai. Thơ giúp cho ông tìm ra chân trời mới. Là cánh cửa cài thơ đi ra thế giới. Thơ cũng giúp ông kết nối với bạn bè, trong nước và cả thế giới.

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật nói với tôi, sở dĩ ông chọn tên tập thơ là “Một mai gió chở tôi về” vì ông cứ nghĩ đây sẽ là tập thơ cuối cùng. Ông sẽ trở về với quê hương, đồng đội, bạn bè theo con đường của gió. Gió đã chở ông đi đến muôn phương để gặp gỡ, kết nối với bạn bè. Gió cũng sẽ chở ông về với cháu con, bè bạn nếu mai sau ông hóa thân thành cát bụi. Sau này, khi viết tập thơ “Người câu gió” ông cũng nhiều lần nhắc đến gió. Cô giáo Nguyên Tô đã viết về ông như sau: “Hoàng Vũ Thuật nhìn thật sâu vào những đau đớn ấy, để xác quyết: đau đớn không phải là một cản đường mà là một món quà. “Người câu gió” vì thế là một món quà từ đau đớn, dĩ nhiên cả hạnh phúc trần ai, nhàu nhò, bầm dập và trên tất cả, nó tỏa ra thứ ánh sáng triết học từ một vầng trán hiền nhân”.

Hoàng Vũ Thuật trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông nhận được nhiều Giải thưởng văn chương và các danh hiệu cao quý khác. Gần đây nhất là giải thưởng văn học Nguyễn Đình Thi lần thứ hai. Cả nước chỉ có hai người được nhận giải thưởng cao quý này. Và một tin vui, năm 2023, tác phẩm “Người câu gió” xuất ngoại, được nhà xuất bản nước ngoài in bằng hai thứ tiếng Anh - Việt, được bay đi khắp các châu lục. Dù đã sắp đến tuổi tám mươi ông vẫn luôn luôn sáng tạo.

Bên cạnh các nhà thơ Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Xuân Hoàng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Bình Trọng, Mai Văn Hoan…vv. thì Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đổi mới thơ ở Quảng Bình. Ông là nhà thơ xung kích đi đầu cho dòng thơ cách tân, hiện đại và hậu hiện đại.

Hoàng Minh Đức

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).