Đọc tiểu thuyết “Khắc tinh với thần chết” của nhà văn Lê Hoài Nam

Một lối đi riêng khi viết về chiến tranh

Bên cạnh các tác phẩm truyện ngắn được đông đảo bạn đọc yêu thích, Lê Hoài Nam còn được biết đến là một cây bút viết tiểu thuyết đã gây được tiếng vang nhất định trong công chúng. Tám cuốn tiểu thuyết của nhà văn là thành quả của cả một chặng đường lao động nghệ thuật nghiêm túc, đầy sáng tạo và say mê.

Trong đó phải kể đến cuốn tiểu thuyết gần đây - "Khắc tinh với thần chết", NXB Văn học, năm 2023, đã có những đóng góp mới mẻ, đáng trân trọng về thể loại tiểu thuyết của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Sự bứt phá trong chi tiết

Khác với thể loại truyện ký chủ yếu viết về người thật việc thật, thành phần cơ bản của tiểu thuyết lại chính là hư cấu, tưởng tượng, do nhà văn sáng tạo ra. Kể từ khi đất nước thống nhất, nhiều tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh đã bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống, số phận con người. Bước sang thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết có phần bùng phát, thăng hoa, có sự chuyển đổi về tư duy nghệ thuật.

Đứng trước nhu cầu “đổi mới tư duy tiểu thuyết”, "Khắc tinh với thần chết" của Lê Hoài Nam đã khai thác đề tài chiến tranh bằng sự kiến giải độc đáo. Tham gia chiến đấu trực tiếp tại chiến trường Bình Trị Thiên, Lê Hoài Nam am hiểu tường tận cuộc sống trận mạc. Nhà văn đã mô tả tỉ mỉ, kỹ lưỡng để đi đến tận cùng cốt lõi cuộc chiến tranh. Cuốn nhật ký của Trung úy cựu chiến binh Phạm Hữu Thậm đã giúp Lê Hoài Nam có sự bứt phá trong việc sáng tạo, tinh lọc các chi tiết dữ dội của chiến trận, biến chúng thành những chi tiết văn học. Chính các chi tiết được sắp đặt một cách nghệ thuật đã làm nên cá tính, sức sống của nhân vật tiểu thuyết.

Một lối đi riêng khi viết về chiến tranh -0
Nhà văn Lê Hoài Nam và cuốn sách viết về chiến tranh có nhiều tình tiết độc đáo.

Đối với tác phẩm văn học, nhân vật là yếu tố hàng đầu chi phối các yếu tố nghệ thuật khác. Trong "Khắc tinh với thần chết", Lê Hoài Nam đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh những biến động hào hùng và bi tráng, khốc liệt của chiến tranh. Các nhân vật đều được mô tả ở nhiều góc độ, nhiều bình diện, nhiều mối quan hệ, nhiều chiều kích và được đánh giá giá trị bằng tiêu chí nhân bản qua các tình tiết độc đáo, đậm chất nhân văn. Các tình tiết, sự kiện ghi trong nhật ký được Lê Hoài Nam vận dụng một cách sáng tạo vào việc khắc họa chân dung người lính.

Ngay từ phần đầu tác phẩm, Lê Hoài Nam đã để cho ba nhân vật Phạm Hữu Thẩm, Vũ Triền Sông và Nguyễn Văn Đắc cùng ở một đại đội, do Đại đội trưởng Nguyễn Viết Mậu chỉ huy. Lần đầu ra chiến trường, họ còn bỡ ngỡ và vấp phải những khuyết điểm. Sông bắn đạn AK khi chưa có lệnh, làm lộ bí mật đơn vị, Thẩm lần đầu nhìn thấy lính Mỹ sợ đến vãi đái ra quần.

Đi sâu vào những uẩn khúc của mỗi nhân vật, nhà văn đã xây dựng các tình tiết truyện bằng cách vừa sử dụng các trang nhật ký, vừa sáng tạo miêu tả bằng sự thấu hiểu và khả năng bao quát sâu rộng thực tế cuộc sống chiến đấu. Từ Đại đội trưởng Nguyễn Viết Mậu, chính trị viên Hoàng Như Quang, thủ trưởng Trần Trung Hắc, các chiến sĩ Thẩm, Sông và Đắc, đến ông già A Kôn, những cô gái KơNiêl, Hai Huê, Kim Huệ ..., mỗi nhân vật đều có cá tính riêng.

Hàng trăm trận đánh được nhà văn miêu tả tỉ mỉ, sinh động với rất nhiều dáng vẻ, nhiều kiểu đánh, độ nguy hiểm và đa dạng về cái chết... Mỗi trận đều hiện rõ tên địa danh, tên người chỉ huy cùng các chiến sĩ, điều đó càng làm tác phẩm gần với hiện thực, gia tăng tính thuyết phục. Những tên địa danh được liệt kê trong "Khắc tinh với thần chết" là chất liệu, là phương diện biểu hiện ngôn ngữ tiểu thuyết có tính thực tiễn gần gũi với đời sống chiến trường, nhằm khắc sâu tính hiện thực của tác phẩm.

Tiểu thuyết rất coi trọng thành phần miêu tả. Nhà văn đã khéo dùng nhật ký để nói về cảnh tang thương khủng khiếp này: “Những nơi giáp ranh giữa đồng bằng, đầu lâu, xương sống, xương ống, xương sườn... phơi trắng lối đi (...) Nhiều cái đầu lâu chúng cắm trên cái cọc” (tr 88). Bên cạnh đối thoại, độc thoại nội tâm, các tình tiết cũng đóng vai trò chủ yếu trong phương thức trần thuật. Nó trở thành một biện pháp nghệ thuật có hiệu quả trong quá trình sáng tạo sao cho giống với hiện thực nhất. Câu mở đầu của các trang nhật ký đều được ghi bằng một thời gian ký ức với các từ “ngày...tháng...năm...”. Thời gian ký ức đó đã trở thành bảo bối của nhà văn nhằm xâu chuỗi các số phận, các sự kiện xảy ra trên chiến trường, tạo ra lợi thế cho tác giả trình bày những suy nghiệm có tính tư tưởng, đẩy tới các tình huống của truyện.

Tình huống truyện bất ngờ, lôi cuốn

Tình huống bất ngờ, gây sốc đó là cái chết của Đắc. Bởi Đắc đã theo Sông và Thẩm cùng chịu đựng gian khổ, nguy hiểm, từng thề sống chết chiến đấu có nhau. Đắc còn được chính trị viên biểu dương trước đại đội. Vậy mà chỉ sau vài ngày, khi Đắc bị bắt, anh đã nhận lời chiêu hồi. Tình huống đầy kịch tính, bất ngờ này đã được đẩy lên đến điểm đỉnh khi Đại đội trưởng Mậu quyết định “xử lý luôn đi” (tr 112). Trong khoảnh khắc không do dự đó, Thẩm dùng khẩu Dragunov cùng loạt đạn đại liên của Sông và trung đội 1, trung đội 2 hạ gục “con đầm già” mà có Đắc ngồi trong đó.

Để tạo ra tình huống độc đáo này, Lê Hoài Nam vừa sàng lọc, lựa chọn sử dụng nhật ký đúng chỗ, vừa phát huy sức mạnh của trí tưởng tượng, kiến giải chiến tranh bằng nhiều chiều kích nên thuyết phục người đọc. Hơn nữa cách xử sự của Thẩm và Sông trong việc chôn cất Đắc vừa là bằng chứng về sự nhào nặn ghê gớm những bất thường của chiến tranh, vừa là một bằng chứng về vẻ đẹp vị tha cao cả, ăm ắp tình người mà không dễ thời nào cũng có được.

Trong tình huống nguy hiểm thể hiện bản lĩnh anh hùng. Đó là sau khi Thẩm “bắn một quả B41 vào nhà chỉ huy... Thịnh bắn trung liên vào nhà ăn” khiến quân ngụy chết và bị thương hàng loạt. Do vết đạn xuyên qua hai mắt cá chân đã khiến Thẩm không thể chạy thoát, không may trốn vào chính nhà tên ấp trưởng. Bị lộ, Thẩm đã tỏ rõ thái độ bình tĩnh, gan dạ và thông minh xử lý tình huống rất linh hoạt. Nhờ cách đó anh đã thoát ra được khỏi vòng trùng vây. Nhưng cơn sốt rét quen thuộc lại ập tới, làm Thẩm rã rời, suy kiệt, cùng lúc lại bị giặc bao vây, bắn phá, khiến “Thẩm nằm im không nhúc nhích. Trời nóng hầm hập, mồ hôi nhớp nháp. Kiến, bọ, sâu róm, sâu đo... bò khắp người, áp chế thần kinh” (tr 275). Ngôn ngữ độc thoại của nhân vật Thẩm ở đây cho thấy sự từng trải, sự khám phá, sáng tạo đáng trân trọng của nhà văn.

Lê Hoài Nam đã tạo sự tái ngộ kỳ diệu bằng tình huống thật lãng mạn. Nhà văn để Thẩm được gặp lại KơNiêl trong cảnh ngộ đặc biệt. Vượt lên trên đạn bom, họ đã biết cách tạo niềm vui sống. Để có cuộc sống đẹp, họ đã không bỏ lỡ cơ hội để hưởng thụ vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của con người. Nói về tình yêu của Phạm Hữu Thẩm và KơNiêl, nhà văn đã không ngần ngại miêu tả chất sắc dục tình yêu nhục thể, một lĩnh vực rất riêng của mỗi cá nhân. Đi sâu vào thế giới nội tâm để nhà văn khám phá chiều sâu tâm tính, nhận diện hình ảnh con người đích thực. Mô tả tình yêu trong chiến tranh, Lê Hoài Nam để sự lãng mạn đồng hành cùng tiếng súng với vô vàn nguy hiểm, nên trang viết đầy ắp hiện thực.

Theo Lê Hoài Nam, chúng ta chiến thắng đối phương là vì có đường lối chiến lược chiến thuật đúng đắn của Đảng, có sức mạnh đoàn kết dân tộc, có quân đội anh hùng, chiến sĩ ta sống có lý tưởng, “Sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc" (tr. 78). Tiểu thuyết "Khắc tinh với thần chết" đã cho ta hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại chống Đế quốc Mỹ. Nếu Mỹ có sức mạnh về tiềm lực kinh tế và vũ lực quân sự, thì dân tộc Việt Nam có vũ khí tinh thần thép của mình. Sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc đã lập nên kỳ tích vĩ đại.

"Khắc tinh với thần chết" là cuốn tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh theo một lối riêng. Lê Hoài Nam đã chọn cách nhìn về cuộc sống nơi chiến sự một cách ngoạn mục khác lạ, thấu hiểu sâu rộng và độc đáo. Với cái nhìn đa diện, nhiều chiều, tác phẩm đã thể hiện một quan niệm nghệ thuật mới mẻ về hiện thực và về con người. Góp thêm một tiếng nói đáng ghi nhận vào sự thay đổi diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. 

Nguyễn Thị Minh Bắc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).