Một diện mạo không thành diện mạo

Sách “Diện mạo văn học Việt Nam Pháp ngữ (Từ cuối thế kỷ XIX đến 1975)” do hai tác giả Nguyễn Công Lý – Phạm Văn Quang biên soạn, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh ấn hành.

Tuy là đề cập đến diện mạo văn học Pháp ngữ ở Việt Nam với khoảng thời gian khá dài - gần một thế kỷ (từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1975), nhưng có thể nói cuốn sách với dung lượng quá khiêm tốn, độ dày của sách tính luôn lời tựa và lời dẫn nhập ở phần đầu gồm 22 trang, phần danh mục tác giả và tác phẩm văn học Việt Nam viết bằng Pháp ngữ và phần tài liệu tham khảo chính ở phần cuối gồm 20 trang thì phần cốt lõi cuốn sách tổng cộng có tất cả vỏn vẹn 200 trang. Vì vậy, tham vọng của tác giả là dựng nên một “diện mạo văn học” đầy đủ, tầm vóc, nhưng có lẽ do “lực bất tòng tâm” nên diện mạo này còn nhiều khiếm khuyết.

Sách gồm có 5 chương: Chương 1- Cơ sở xã hội và nguyên nhân hình thành bộ phận văn học Việt Nam Pháp ngữ; Chương 2 - Chân dung nhà văn; Chương 3- Hệ thống xuất bản – lưu hành và thừa nhận tác phẩm; Chương 4 - Thể loại tác phẩm và Chương 5 - Những chủ đề nổi bật. Trong đó có 3 chương mà chúng tôi cho là chứa đựng nhiều khiếm khuyết là chương 1, 2 và 5.

Ở Chương 1, tựa đề thì có vẻ to tát, hoành tráng nhưng nội dung thì vắn tắt, sơ lược về quá trình thực dân và hệ thống giáo dục của người Pháp ở Việt Nam là cơ sở xã hội để hình thành bộ phận văn học Pháp ngữ ở Việt Nam.

Trong phần 1.1 (Chương 1): Quá trình thực dân Pháp và lịch sử của một ngôn ngữ văn học mới - chỉ vỏn vẹn có 3 trang in, ngoài phần lý luận loanh quanh, rối rắm giống như “tung hỏa mù” thì xen vào giữa những dòng “lý luận” đó, tác giả đề cập sơ sài về quá trình thực dân, sự xâm nhập của chữ Pháp, một số trí thức sử dụng Pháp ngữ (Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của…), vài tờ báo Pháp ngữ hoặc có phần Pháp ngữ (Đông Nam tạp chí, Nam Phong…) v.v… 

Lẽ ra, ở phần này tác giả phải khái quát được theo chiều dài lịch sử quá trình người Pháp xâm lược và thống trị, quá trình xâm nhập của Pháp ngữ và những nhà văn, nhà báo, học giả và những tờ báo, tạp chí Pháp ngữ đi tiên phong một cách chi tiết, cụ thể, chứ không phải là một mớ bùng nhùng, rối rắm sau trước lẫn lộn. Vì vậy, “Quá trình thực dân Pháp” nhưng chẳng thấy “quá trình” nào cả, mà chỉ là những dòng vắn tắt, sơ lược và “Lịch sử của một ngôn ngữ văn học mới” nhưng rất tiếc là “lịch sử” chỉ có vài nét sơ sài, còn sự hình thành một “ngôn ngữ văn học mới” thì quá mờ nhạt.

Phần 2.2 cùng Chương 1: Hệ thống giáo dục và tác động của nó đến sự ra đời của văn học Pháp ngữ - khoảng 12 trang, nội dung đề cập đến sự hình thành nền giáo dục của người Pháp xây dựng ở Việt Nam để thay thế cho nền giáo dục Hán học trước kia, mục đích phổ biến ảnh hưởng nền văn hoá Pháp và đào tạo ra tầng lớp viên chức, công chức người bản xứ trong hệ thống cai trị ở thuộc địa. 

Và hệ thống giáo dục đó đã cho ra đời một tầng lớp trí thức người Việt thông thạo tiếng Pháp, điều kiện để ra đời của văn học Pháp ngữ. Ở phần này, tác giả lại tiếp tục lý luận loanh quanh, không khái quát được theo trình tự lịch sử quá trình hình thành nền giáo dục Pháp – Việt, hệ thống trường lớp, chương trình đào tạo… một cách đầy đủ.

 Đáng nói, tác giả viết theo lối “nhảy cóc”, đang đề cập vấn đề này chưa ngã ngũ thì nhảy thoắt qua một vấn đề khác, việc diễn biến trước nói ở sau, việc xảy ra sau nói ở trước, thật lộn xộn.

Một số trang viết còn sai sót những kiến thức rất sơ đẳng. Khi viết về chính chủ trương giáo dục “mở rộng chiều ngang, hạn chế chiều cao”, tác giả phóng bút “…thực dân Pháp lại rất hạn chế cho người dân bản địa được học cao hơn, bằng cách thời gian đầu chỉ mở tại các nước thuộc địa các trường học từ cấp trung học trở xuống… sự ra đời của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, do toàn quyền Martial Henri Merlin ký quyết định thành lập ngày 27 tháng 10 năm 1924. Trước đó, vào năm 1917, cũng đã xuất hiện Trường Cao đẳng Thú y” (tr. 28). 

Có vẻ như tác giả chưa bao giờ tìm hiểu lịch sử giáo dục nước ta ở những thập niên đầu thế kỷ XX. Từ năm 1917 đến năm 1924 chính quyền thực dân không chỉ mở 2 trường cao đẳng thú y và mỹ thuật. Khoảng năm 1918-1919, ở Hà Nội – thủ phủ của xứ Đông Dương bấy giờ -  đã có 7 trường cao đẳng là Y dược, Pháp chính (về sau đổi là Cao đẳng Luật), Sư phạm, Thú y, Công chánh, Canh nông, Thương mại. Đến thập niên 30, một số trường cao đẳng được nâng cấp lên bậc đại học (Y khoa, Luật, Khoa học) thuộc Đại học Đông Dương.

Tác giả viết về thực dân Pháp hạn chế việc học tập của nhân dân ta và đưa ra ví dụ là số lượng sinh viên ít ỏi ở Trường Cao đẳng Thú y: “Dù ở ta lúc này đã có trường cao đẳng nhưng số lượng người được vào học cũng rất ít. Ví dụ Trường Cao đẳng Thú y được thành lập năm 1917, sau 26 năm hoạt động, tức vào năm 1943, vậy mà tổng số sinh viên đang theo học tại đây chỉ có 27 người, trong đó năm thứ nhất là 14 người, năm thứ hai có 8 người và năm thứ ba chỉ có 05 người!” (tr. 29)… 

Thực dân Pháp hạn chế việc học của dân ta, điều đó là hiển nhiên, nhưng đưa con số sinh viên ở trường thú y để minh hoạ thì không ổn, dễ gây ra ngộ nhận. Vì thời bấy giờ, người dân ta còn mang nặng ảnh hưởng tính chất phong kiến nên hầu hết phụ huynh đều mong muốn con em của họ chọn học các trường Cao đẳng như: Luật, Y khoa, Sư phạm để sau này ra làm quan, đốc-tờ, giáo sư là những nghề theo quan niệm truyền thống là “sang trọng, danh giá”, chứ ít có học sinh nào chọn trường thú y vì nghề đó kém sang trọng. 

Trường Cao đẳng Thú y có thời gian phải tuyển cả những học sinh chưa có bằng Thành chung. Trường có sinh viên theo học đông nhất là Cao đẳng Luật khoa, tốt nghiệp có thể gia nhập ngay vào quan trường, trở thành tri phủ, tri huyện…

Ở Chương 2, có tất cả 14 nhà văn viết bằng tiếng Pháp được “chọn” để giới thiệu, gồm: Nguyễn Ái Quốc, Ngô Văn, Phan Văn Trường, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Phan Long, Pierre Đỗ Đình, Hoàng Xuân Nhị, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng, Trần Văn Tùng, Cung Giũ Nguyên, Phạm Văn Ký, Trịnh Thục Oanh và Lý Thu Hồ. Phần “chân dung” này thật phiến diện, “thiếu đầu, thiếu đuôi” nên chẳng ra diện mạo chân dung nhà văn. Chưa kể, tác giả đã bỏ sót một số tác giả người Việt viết sách, báo bằng Pháp văn nổi tiếng ở cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX như Trương Vĩnh Ký, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn An Ninh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Vỹ…

Ở Chương 3: Những chủ đề nổi bật, tác giả đã có những nhận định nhầm lẫn hoặc mắc nhiều sai sót về kiến thức. Ở trang 199, tác giả viết: “Vì phần lớn những trí thức trẻ Việt Nam ở miền Nam trong giai đoạn 1920-1940 bị ru ngủ trong sự hão huyền giả tạo của những thứ hạnh phúc, tự do và công bằng được tạo ra bởi chính quyền thuộc địa”. Tác giả đã tỏ ra thiếu hiểu biết về lịch sử. 

Thời bấy giờ Nam Kỳ là đất “trực trị” của người Pháp, còn Trung Kỳ và Bắc Kỳ là đất thuộc chủ quyền của Nam triều, Pháp chỉ “bảo hộ” trên danh nghĩa. Triều đình Huế chỉ là bù nhìn mà thôi. Vì vậy, không thể nói chỉ riêng trí thức trẻ ở Nam Kỳ là vùng đất “trực trị” nên bị ru ngủ, đầu độc bởi chính sách văn hoá mị dân của chính quyền thực dân, mà thanh niên 3 kỳ đều chịu chung hoàn cảnh, số phận như vậy.

Trong quá trình biên soạn, tác giả cũng chỉ đề cập đến văn học Pháp ngữ ở giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1945, còn giai đoạn 1945-1954 tức là thời xảy ra cuộc chiến tranh Pháp – Việt trên toàn quốc, rồi ở miền Nam từ năm 1954-1975, tác giả chưa nói rõ dòng văn học Pháp ngữ ở giai đoạn này như thế nào, không nêu được đầy đủ các nhà viết Pháp văn nổi bật ở miền Nam, không lý giải nguyên do văn học Pháp ngữ giai đoạn này không phát triển như thời trước 1945.

Sách “Diện mạo văn học Việt Nam Pháp ngữ (Từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1975)” vì vậy không thể trở thành một diện mạo văn học hoàn chỉnh như các tác giả mong muốn.

Hoàn Nguyễn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).