Nhân đọc “Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung” của GS, TS, Nhà giáo ưu tú Trần Ngọc Vương - NXB Thông tin và Truyền thông, 2018

Một cuốn sách quý

“Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung” tập hợp những bài viết tâm huyết và sâu sắc của GS, TS Trần Ngọc Vương, là một trong những cuốn sách “gối đầu giường” mà nhiều thế hệ sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu phê bình văn học và bạn đọc quan tâm đến văn học nước nhà yêu thích.

GS, TS, Nhà giáo ưu tú Trần Ngọc Vương nguyên là giảng viên tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Cuốn “Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung” của Trần Ngọc Vương xuất bản lần này được chỉnh sửa, bổ sung thêm một số bài cho phù hợp hơn so với xuất bản lần đầu, năm 1997. Cuốn sách dày gần 500 trang, tập hợp 19 bài viết công phu trong công trình nghiên cứu từ “nguồn chung” đến “dòng riêng”.

Mở đầu, Trần Ngọc Vương đề cập đến hình thái kinh tế xã hội và kết cấu giai cấp trong lịch sử Việt Nam, cũng như hầu hết các nước Đông Á. Ông nhận xét, xã hội Việt Nam ít nhất từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIX có 2 giai cấp đối kháng là địa chủ phong kiến với giai cấp nông dân. Đến đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã tập hợp được lực lượng vô sản với các tầng lớp nhân dân có tinh thần dân tộc để chống lại thế lực thực dân Pháp cấu kết với tư sản mại bản, giai cấp phong kiến phản động.

Một cuốn sách quý -0
GS, TS, Nhà giáo ưu tú Trần Ngọc Vương.

Về “Mẫu hình Hoàng đế và con đường tìm kiếm, sự thể hiện bản ngã trong triết học và văn học khu vực Đông Á” ông viết: Nói chung trong xã hội phong kiến “chỉ có hoàng đế mới là người bắt ai chết phải chết, cho ai sống được sống”. Nhưng “điều kỳ lạ là về mặt lý thuyết cả nhà nho lẫn hoàng đế đều chấp nhận ý dân là ý trời”. Trong khu vực Đông Á, cả Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Triều Tiên có chung một truyền thống văn hoá, văn minh lớn, có những chặng đường phát triển đồng dạng”. Quan hệ họ hàng Nho giáo được mở rộng, củng cố. Chẳng thế mà đầu thế kỷ XX, các nhà chí sĩ còn hình dung: “Chi Na chung một họ hàng/ Xiêm La, Nhật Bản cùng làng Á Đông”.

Bàn về “Nho giáo ở Việt Nam các thế kỷ XV-XVII”, ông viết: “Nho giáo vào thế kỷ XVII không tạo dựng được những khuôn mặt văn hóa lớn, không đào sâu, nâng cao và cũng không bổ sung được gì mới mẻ so với Nho giáo thế kỷ XV, XVI”. Về sự giới hạn của nội dung nhân đạo chủ nghĩa trong văn chương Nho giáo luôn tồn tại, tiếp nối đó chính là tư tưởng Nhân nghĩa, văn chương bị trói buộc vào nội dung Nhân nghĩa. Và trong văn chương Nho giáo thời Lê Sơ,“Nguyễn Trãi nổi bật lên như một đỉnh cao kì vĩ, một nhân cách văn hóa lỗi lạc và một thiên tài toàn diện, đổ bóng xuống toàn bộ chặng đường tiếp theo của Việt Nam”. Ông viết nhiều bài về Nguyễn Trãi như: “Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi”; “Nguyễn Trãi với truyền thống và bản sắc dân tộc”; “Nhà tư tưởng và nhà nghệ sĩ trong “Quốc âm thi tập”.

Trong Hội nghị khoa học Quốc tế do Liên hiệp quốc bảo trợ Kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi, Trần Ngọc Vương đã viết bài “Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi”. Ông đặt vấn đề cần làm sáng tỏ hơn một số điểm: “Một số ý kiến cho rằng tư tưởng nhân dân ở Nguyễn Trãi là kết tinh của tư tưởng nhân dân trong truyền thống dân tộc, hoặc là sản phẩm của lịch sử xã hội Việt Nam chống lại tư tưởng Nho giáo, thậm chí chống lại cả tư tưởng của giai cấp phong kiến lúc bấy giờ. Ngược lại, không ít ý kiến cho rằng Nguyễn Trãi là nhà nho nên dứt khoát tư tưởng nhân dân ở ông là tư tưởng Nho giáo dưới dạng biến thể”. Rồi ông khẳng định ý kiến của riêng mình: “Vốn kinh lịch bản thân và Nho giáo cùng tạo cho Nguyễn Trãi gặp gỡ với dân gian trong nhận định chắc nịch: “Vua nhất thời dân vạn đại”.

Trong văn học sử Việt Nam, từ thế kỷ XVII, ông viết bài: “Từ hồi quang người anh hùng thời loạn đến khuôn hình một tài tử phong lưu”, ông phân tích những hình tượng văn học như Khổng Minh trong “Ngọa Long cương vãn”, người anh hùng trong “Chim trong lồng”, Trương Long trong “Trương Lưu hầu phú”, Nguyễn Huệ trong “Hoàng Lê nhất thống chí”, Từ Hải trong “Truyện Kiều”. Đối với “người anh hùng thư kiếm” trong thơ văn Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ, ông nhận xét: “các vua Nguyễn, từ Minh Mệnh, Thiệu Trị đến Tự Đức đều đánh giá đúng và sử dụng Nguyễn Công Trứ một cách có hiệu quả”; “Lý tưởng làm người anh hùng ở Nguyễn Công Trứ, để tự bảo toàn, phải tuân theo tất yếu nghiệt ngã của sự vận động lịch sử mà co trở về, tuy hoàn toàn không phải thỏa mãn, với khuôn khổ của mô hình, được hình thành rõ nét từ lâu”.

Một cuốn sách quý -0
Tác phẩm của GS, TS Trần Ngọc Vương.

Nhận xét những đặc điểm mang tính quy luật của sự phát triển văn học nhận qua ánh sáng của một tác giả, ông cho rằng, với “Nguyễn Đình Chiểu, ái quốc là tuyệt đối, và trung quân là tương đối. Lòng yêu nước ở ông xét như một tình cảm, là tuyệt đối, là mãnh liệt, thiết tha. Nhưng chủ nghĩa yêu nước ở ông, xét như một yếu tố của ý thức hệ, thì có biến thiên, thăng trầm, khủng hoảng”. Nguyễn Đình Chiểu đã “biện minh cho Trương Định bằng những ngoại lệ mà đạo thần tử của Nho giáo cho phép - đó là quyền của tướng ngoài biên ải có lúc được phép không vâng lệnh của triều đình”. Trong lịch sử Việt Nam cận đại, từ năm 1858 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ Trương Định mà sau này Tôn Thất Thuyết người đứng đầu phái chủ chiến và những cộng sự vẫn chống lại các hòa ước nhu nhược của triều đình Huế kí với thực dân Pháp, để dựng lên ngọn cờ Cần Vương cứu nước.

Khi thực dân Pháp đặt được ách đô hộ lên toàn thể đất nước Việt Nam, phân chia cả nước thành 3 kỳ Bắc, Trung, Nam báo hiệu nền Nho học đang dần suy tàn nhưng thơ văn Nguyễn Khuyến, Tú Xương vẫn đứng vững được trong lòng những người dân yêu nước.

Kỷ niệm 150 năm, ngày sinh của Nguyễn Khuyến, Trần Ngọc Vương viết bài: “Thơ Nôm đến Nguyễn Khuyến” và nhận định: “Sống trăn trở, đồng cảm với những con người bình thường, lòng yêu thương con người ở Nguyễn Khuyến đã phá vỡ giới hạn văn chương bác học trước ông. Do học vấn, do hoàn cảnh chung, Nguyễn Khuyến không vươn tới nhu cầu giải phóng của chủ nghĩa nhân đạo… Nguyễn Khuyến cũng thể hiện một lòng yêu nước theo cách riêng của riêng ông, nói tiếng nói của đa số cư dân trong cơn quốc nạn”. Ông cho rằng: “Thơ Nôm là bộ phận quan trọng nhất, có ý nghĩa nhiều mặt nhất mà Nguyễn Khuyến để lại cho văn học dân tộc. Ngày nay, đọc kỹ lại thơ Nôm của ông vẫn còn nhiều bài học mang ý nghĩa thời sự”.

Sang thời kỳ phong trào Duy Tân phát triển sâu rộng trong cả nước, trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, ông viết về nhà chí sĩ Phan Bội Châu với bài: “Mấy đặc điểm loại hình nhân cách nhà Cách mạng Phan Bội Châu” có đoạn: “Biết rằng với dân trí đương thời, không có khoa danh thì quyết không thể ăn nói, không thể “hưng, quan, quần, oán” mà về thực học thực lực, Phan Bội Châu lại là một tay kiệt hiệt giữa trường văn trận bút, đủ sức làm kinh ngạc quần nho, để rồi được trong triều ngoài quận chúng khẩu đồng từ rằng ông “hay chữ nhất nước Nam”. Nhà cách mạng mới, Nguyễn Ái Quốc đã thừa nhận Phan Bội Châu là “người anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, mặt khác đã thấy rằng ông không am hiểu chính trị hiện đại và quần chúng cách mạng hiện đại”.

Ngoài ra ông còn viết nhiều bài về Tản Đà. Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Bài “Dân tộc và hiện đại, truyền thống và cách tân qua văn nghiệp Tản Đà” của ông lần đầu tiên được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ông viết: Vào lúc “Tản Đà xuất hiện trên văn đàn gặp ngay “kinh tế thị trường” và “cơn gió lạ” trên văn đàn thổi suốt trong Nam ngoài Bắc, làm dấy lên một luồng không khí thưởng thức Tản Đà nhiều tầng lớp”.

Nhưng từ năm 1928 trở đi, Tản Đà sáng tác ít dần, thánh địa của nền văn học cũ bị chiếm lĩnh, Tản Đà nhanh chóng bị bỏ quên: “Cần nói ngay, lúc Tản Đà còn sống, người ta quên ông nhanh vì ông đã trở thành “đồ cổ”. Người ta cũng quên (hay cố tình quên?) sau khi ông mất, vì lí do ông quá “phức tạp”. Đánh giá sự nghiệp của Tản Đà, trong bài “Sự thống nhất của các mâu thuẫn trong tư tưởng và trong sáng tác của Tản Đà” ông viết: “Tản Đà không phải là văn hào dân tộc nhưng ông là nhà thơ lớn, một hiện tượng văn học và một hiện tượng xã hội rất tiêu biểu và thú vị, phản ánh chồng chéo nhiều vấn đề của lịch sử, của văn học”.

*

Khi viết lời giới thiệu cuốn “Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung”, GS, TS Trần Ngọc Vương bộc bạch: “Hẳn bạn đọc cũng không ngạc nhiên khi nói rằng trên đường hướng tiếp cận như vậy, thì có quá nhiều việc phải làm; đến mức là ở thời điểm hiện nay, việc trình bày “văn học Việt Nam” thành “dòng riêng” giữa một nguồn chung dưới dạng một chuyên luận là điều chưa thể thực hiện được. Thiết nghĩ, như đã nói, đó là cả một bình diện tiếp cận, một đường hướng lớn, ngoài tầm đề tài của một cuốn sách”.

Đúng như Tiến sĩ văn học Phạm Xuân Thạch khi đọc cuốn sách này đã trân trọng nhận xét: “Cái dòng riêng văn học dân tộc được giải mã, được phân tích, được đọc, cắt nghĩa và diễn dịch thông qua việc đặt trong nguồn chung của lịch sử và lịch sử tư tưởng của Việt Nam, Đông Á và thế giới”.

Cuốn sách này còn là một tài liệu tham khảo cho các giáo viên dạy văn và học sinh ở các trường phổ thông.

Hoàng Minh Đức

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).