Một biểu tượng vĩnh cửu

Đó là biểu tượng "Đất"! Vì xét đến cùng con người ta gắn liền với đất, sinh ra từ đất, lớn lên nhờ đất rồi lại trở về với đất. Mấy tỉ năm sau con người có thể di cư lên sao Hỏa để sống nhưng chắc chắn biểu tượng này không bao giờ dứt khỏi tư duy nhân loại! Vì đất là bệ phóng cho họ vươn tới những hành tinh khác!

Người Việt có một triết lý tuyệt vời: "Người ta là hoa đất!". Con người là quý nhất, đẹp nhất, thiêng liêng nhất nên lấy cái gì để so sánh cũng không thể bằng "đất". Và chỉ so sánh với "hoa đất" mới đích đáng nhất. Người Việt coi trọng tính cách hiền lành nên lại có một so sánh đáng ngẫm: "Hiền như đất!". Được như vậy ắt hẳn là người có phúc có đức!

Với con người, có gì quý hơn tình yêu, tình nghĩa đâu. Thời Hùng Vương, trong lễ cưới người ta trao nhau nắm đất và gói muối. Cũng là những biểu tượng không thể thay thế. "Muối ba năm muối đang còn mặn". Muối nói thay cho tình nghĩa mặn mà, nồng hậu, chung thủy. Với nghề làm ruộng thì có gì quý hơn đất đâu nên đất là những gì vĩnh cửu, quý giá nhất, gắn bó nhất. Ngày nay có đám cưới cô dâu đeo vàng đầy người, dĩ nhiên vàng rất quý (và rất không nên phê phán) nhưng liệu ý nghĩa có được như ngày xưa!?

Cày đồng đang buổi ban trưa!
 Cày đồng đang buổi ban trưa!

Người Việt quý đất đai, yêu xứ sở. Người ta nhắc nhau: "Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang/ Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu". Triết lý cổ xưa của họ là: "Cha trời mẹ đất", tức quý trọng, yêu mến đất đai như bậc sinh thành. Tục thờ Thổ Công xét đến cùng chính là thờ Đất: "Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá" là vậy! Người xưa làm ruộng phải dựa nhiều vào thiên nhiên nên mới có bài ca dao: "Trông trời, trông đất, trông mây/ Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm". Bao nhiêu dự cảm, lo âu và hy vọng dồn vào chữ "trông" này, thì "trông đất" chỉ sau "trông trời"...

Không phải chỉ ở xứ mình mới quý đất như vậy. Đất trở thành mẫu số chung của văn hóa nhân loại, bất cứ ở đâu, bất kỳ thời đại nào cũng đều coi đất là thiêng liêng, là những gì quý giá nhất, tất nhiên các lớp nghĩa sẽ dày mỏng khác nhau. 

Dũng sĩ Asin là con của thần thánh nên tất nhiên bất tử vì chàng đúng nghĩa "mình đồng da sắt". Trận đánh nào có chàng tham dự đều chiến thắng. Kẻ thù chỉ nghe tên chàng đã rụng rời chân thay mà tự thua trận. Nhưng kẻ thù, bao giờ cũng vậy, luôn cố tìm ra điểm yếu của đối phương. 

Thế là lần đánh ấy đối thủ của Asin giả vờ thua mà bay lên trời chạy trốn. Asin dũng mãnh bay theo... Than ôi, ở dưới đất hàng ngàn mũi tên độc bay lên nhằm vào gót chân chàng. Asin rơi xuống mà chết tức tưởi. Thì ra khi đứa con của thần thánh ra đời, các bà mụ đã nhúng cậu chàng xuống dòng sông thiêng nhưng còn để hở hai gót chân. Từ đó câu chuyện đọng lại thành khái niệm "gót chân Asin" dành cho hậu thế để chỉ điểm yếu chí tử của bất kỳ ai... 

Chuyện tày trời ấy vọng ngay đến thiên đình, trên đỉnh cao Ôlanhpơ quyền năng, thần Dớt vĩ đại thở dài mà rằng: "Hỡi thiên hạ trước nay hãy nhớ: đừng bao giờ rời khỏi Đất Mẹ. Hãy bám chặt vào Đất, Đất sẽ truyền cho sức mạnh. Đừng như Asin!". Thì ra để gót chân Asin không tắm nước thiêng là chủ ý của Dớt...

Vẫn thần thoại Hy Lạp, La Mã kể chuyện một ông vua tên Miđát, vì xử thần Gió thua thần Lửa trong cuộc đọ tài nên bị thần Gió cầm hai tai kéo dài ra cùng lời nguyền: "Ngươi là một con lừa!!!". Từ đó vua có đôi tai lừa. Vua phải để tóc dài che tai. Nhưng trời nắng nóng thì khổ lắm. Vua phải nghĩ chuyện cắt tóc. 

Vua bèn vời người thợ giỏi nhất, nổi tiếng đạo đức ngoan ngoãn nhất kinh thành đến và yêu cầu: cắt tóc cho ta nhưng nếu để lộ bất kỳ bí mật gì ngươi sẽ bị trả giá bằng cái chết. Đổi lại ta sẽ trả ngươi rất nhiều vàng. Đơn giản quá! Người thợ ký ngay vào bản cam kết. 

Trở về, một ngày, hai ngày, người thợ ấy cứ thấy ngày thêm khó chịu vì cái bí mật kỳ lạ của vua mà không được nói cho ai biết. Ngày nay thiên hạ gọi là "chia sẻ" có gì bức bối "chia sẻ" ngay sẽ dịu đi nỗi ẩn ức. Nhưng ngày ấy lại chưa có facebook, zalo... 

Người thợ thông minh bèn nghĩ cách mà anh ta cho rằng sẽ khôn hơn cả Thượng đế là lên ngọn đồi cao nhất kinh thành, đào ba thước đất, ngồi xuống hố mà nói cho thật thỏa, thật hết cái bí mật lâu nay: "Vua Miđát có đôi tai lừa!". 

Sau đó anh ta lấp hố rồi chôn chặt. Nhưng từ vị trí ấy mọc lên một cây liễu. Nó lớn nhanh kỳ lạ, mỗi lần có gió cây liễu lại thì thào nhờ gió thổi cái sự bí mật đi khắp mọi nơi: "Vua Mi-đát có đôi tai lừa!"...

Tranh minh họa thể hiện cảnh Asin tắm ở dòng sông thiêng!
Tranh minh họa thể hiện cảnh Asin tắm ở dòng sông thiêng!

Thật là một triết lý tuyệt vời: dù có đào sâu ba thước đất nhưng không chôn giấu được sự thật!

Văn hóa Việt có những triết lý không kém phần sâu sắc như thế. Là một biểu tượng mở, nên "đất" trong tục ngữ ca dao luôn chứa đựng những ý nghĩa phong phú. "Đất lành chim đậu" là nói về một vùng quê, một cộng đồng, một gia đình hiền lành, phúc hậu sẽ có nhiều người ghé thăm... 

"Đất lề quê thói" là vùng quê nào cũng có phong tục, tập quán riêng cần được tôn trọng. "Đất chẳng chịu trời, trời chẳng/ phải chịu đất", là chỉ những mối quan hệ khó/ chấp nhận giải quyết mâu thuẫn. Để chỉ những người ăn may nhờ cơ hội, có câu: "Để là hòn đất, vật (nặn) nên ông Bụt/ tượng". 

Ca ngợi những người có chí có tài sống ở nơi khó khăn nhưng vượt lên hoàn cảnh, có câu: "Đất sỏi chạch vàng". Nhắc nhở răn dạy người ta dù có là người hiền, người tốt nhưng làm gì cũng phải có mục đích, có hiệu quả. Nếu không có khi chính mình phải chịu hậu họa: "Đất bụt mà ném chim trời/ Chim thì bay mất, đất rơi xuống đầu"...

Học tập ngôn ngữ dân gian, Nguyễn Du trong "Truyện Kiều" với biểu tượng "đất" đã kiến tạo nên những bức tranh thật giàu sắc thái biểu cảm. Một câu thơ nhưng người đọc hình dung ra cả một số phận lênh đênh: "Sè sè nấm đất bên đường"; một không gian hoang vắng: "Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày"; một gia đình ly tán: "Một sân đất cỏ dầm mưa";... 

Chỉ truyền thống một dòng họ, một vùng văn hóa: "Văn chương nết đất, thông minh tính trời". Chỉ một thân phận nổi trôi: "Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người". Chỉ sự thay đổi đến bất ngờ của một xã hội: "Đất bằng nổi sóng đùng đùng"...

Chắc chắn, đối sánh với văn học thế giới cùng thời điểm thì văn học Việt Nam thời gian qua giàu có về đề tài/ chủ đề "Đất". Vì chúng ta phải qua 40 năm chiến tranh vệ quốc. Kẻ thù đến chiếm đất buộc mọi người dân chân chất hiền lành phải đứng lên cầm vũ khí để đòi lại đất và giữ đất. Chỉ kể sơ tên tác phẩm văn xuôi cũng có: "Đất miền Đông" (Nam Hà); "Đất mới vỡ" (Trần Thanh Giao); "Đất trắng" (Nguyễn Trọng Oánh"; "Đứa con của đất" (tiểu thuyết) và "Đất" (truyện ngắn) của Anh Đức...

Tình yêu là sự hóa thân, nhập thân. Thời chống Mỹ, những người yêu nhau nhập thân vào trong nhau rồi cùng nhập tình yêu vào đất nước. Đất và nước hoá thân vào tình yêu hay tình yêu hoá thân vào đất nước thật khó phân biệt: "Đất là nơi anh đến trường/ Nước là nơi em tắm/ Đất nước là nơi ta hò hẹn". 

Điều băn khoăn của cô gái trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cũng là mối băn khoăn của trăm ngàn cô gái ngoài đời: "Gió anh bao la/ Cây em ve vuốt/ Đất anh thẳm sâu/ Lúa em cúi đầu/ Nhưng sao vẫn hỏi/ Day dứt trong lòng/ Anh có tốt không" (Anh có tốt không). Ví "anh" là "đất" thì tin "anh" thật tốt rồi. Thế nên "em" cũng hóa thân vào "đất": "Đất như cô gái yêu/ Giấu bao điều chưa nói/ Bỗng nhú những mầm non/ Khi nghe mùa xuân gọi" (Lâm Thị Mỹ Dạ). "Đất" hiền lành và thủy chung. "Đất" cũng nhiều xôn xao bao khát vọng như cô gái đang yêu ấy!

Ngoài chiến trường có người lính ngã xuống khi giữ đất: "Chúng mình có ở cách xa nhau/ Một thước đất sao Hùng không nghe mình gọi?/ Một thước đất hoá khoảng trời vời vợi…". Đó là tình đồng chí thiêng liêng trong bài thơ "Nấm mộ và cây trầm" của Nguyễn Đức Mậu đau đớn nói về một chiến sĩ tên Hùng vừa hy sinh. Máu người lính thấm vào đất: "Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất". Họ đã nằm trong "Đất Mẹ": "Hùng nằm trong nôi của đất rộng vô cùng"...

Trong thơ ca đương đại, Mai Văn Phấn là tác giả thường sử dụng hình tượng này để chuyên chở ý nghĩa ca ngợi sự phồn sinh nảy nở, phát triển. Mô tip "Đất Mẹ" được biến thể thành nhiều những "lòng đất", "thớ đất", "đất mỡ màu", "đất hồi sinh", "đất mang thai", "mặt đất vừa qua phút lâm bồn"… 

Có những câu thơ căng tràn sự sống: "Nụ hôn nín thinh, tỏa nhiệt, khoan vào lòng đất/ chạm những mạch ngầm ứ căng huyền bí thuở xưa/ Đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt/ dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời". (Bài hát mùa màng)...

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.