Mời bạn “trèo với thông”!

Chữ “tùng” (tiếng Hán) được ghép bởi hai bộ, “mộc” (cây) và “công” (mạnh mẽ) để biểu thị ý nghĩa về sức sống kiên cường, dẻo dai, bền bỉ. Trong văn hóa phương Đông, cây thông sừng sững giữa bầu trời tai ương giá rét nhưng vẫn tỏa bóng xanh cành quanh năm để rồi trở thành một trong “tứ quý” (tùng, cúc, trúc, mai) làm ẩn dụ chỉ con người vững vàng vươn lên trong nghịch cảnh.

Hầu như các bậc hiền nhân thi sĩ đều ngầm ví, hoặc được người đời so sánh với cây thông. Ngày nay ai hành hương lên chùa Hoa Yên - Quảng Ninh (tương truyền do Phật hoàng Trần Nhân Tông xây dựng), vẫn được chiêm bái hai hàng thông cổ thụ có tuổi thọ hơn 700 năm sừng sững, thâm trầm, uy nghiêm, cổ kính như mời gọi về miền cổ xưa. Không chỉ là chứng nhân lịch sử, những cây thông ấy còn là tài sản vô giá về văn hóa, tinh thần của tâm thức cộng đồng.

image001.jpg -0
Đường tùng - khu di tích Yên Tử.

Trường nghĩa văn hóa “cây” của nhân loại vốn gắn liền với tư duy và sự phát triển của văn minh. Không chỉ trong thần thoại Bắc Âu mới có cây thần linh thiêng chứa 9 thế giới có các nhánh kết nối với vạn vật, mà hầu như dân tộc nào cũng có “cây thần” của riêng họ. Thế nên còn được gọi chung là cây sự sống, cây thế giới...

Trong “Trường ca Đăm Săn” của ta, đó là một cây lớn “phải một năm mới đi hết vòng gốc”, gọi là cây Smuk (cây linh hồn). Đăm Săn hồn nhiên và khẳng khái nói: “Vậy thì ta đốn cây này đi”. Tức chàng “đốn” cây sự sống hay cự tuyệt quyết liệt với tập tục lạc hậu của cộng đồng. Cùng với ý định đi “bắt Nữ thần Mặt trời làm vợ” đã thể hiện khát vọng muốn thay đổi quy luật vũ trụ… Chẳng phải là một khát khao vĩ đại mang tầm nhân loại sao?!

Cây thế giới chứa trong nó biết bao ý nghĩa quan niệm về sự sống, cái chết, về vũ trụ với nhịp tuần hoàn… Vì thế trong thần thoại cổ xưa nhiều dân tộc có hình tượng cây mọc ngược biểu hiện quan niệm sự sống từ trên trời xuống. Các tôn giáo lớn đều có “cây thế giới” riêng.

Cây thiêng nhất trong Phật giáo là cây Bồ Đề vốn có trong văn hóa Ấn Độ trước cả Phật giáo, biểu tượng cho học vấn, năng lực sinh sản, giác ngộ và bảo vệ. Về sau gắn liền với huyền thoại tu tập của Đức Phật nên được phú thêm nhiều ý nghĩa mới, có nghĩa trung tâm là mang lại may mắn, hòa bình, thịnh vượng và hạnh phúc. Các chính khách Ấn Độ thường hay tặng khách quý cây được chiết ra từ cây Tổ, là từ lý do này…

Trong “Tam quốc diễn nghĩa”, cây thiêng biểu trưng cho sự sống. Tào Tháo chém cây thiêng là báo hiệu cuộc đời ông ta sắp kết thúc. Tiến hành xây dựng dinh thự mới ở thành Lạc Dương, khi thi công bị vướng một cây rất cao, không thể chặt hạ. Tào Tháo đích thân đến rút kiếm chặt cây. Từ chỗ chém xối ra dòng máu… Từ đó Tháo mắc bệnh đau đầu, thuốc nào cũng không khỏi.

Xuất phát từ nghĩa đen, với các “đại thụ”, rễ cắm sâu vào đất đá trên núi cao, vươn cành lên như một cầu nối đất với trời, biểu tượng “cây thần” biến hóa thành trụ, thành tháp... như trong thần thoại “Thần trụ trời” của ta gửi gắm quan niệm thô sơ về vũ trụ, hay truyền thuyết nổi tiếng về Tháp Babel giải thích về sự bất đồng ngôn ngữ của các dân tộc trên thế giới.

Truyện “Sự tích thằng Cuội” của ta có thể cũng là một ánh xạ từ “cây thế giới”: vợ thằng Cuội đái vào gốc làm cây mất thiêng nên cây bay về trời… Xét về nghĩa đen của cây thông, mọc trên núi đá, chịu rét, chịu gió bão, sống hàng thiên niên kỷ… nên cũng là một “cây thế giới” trong văn hóa.

Hình tượng quen thuộc với văn hóa phương Tây đến mức gọi là cây thông Giáng Sinh - linh hồn của ngày Lễ Giáng sinh. Tục này có từ khoảng trên dưới 2000 trước Công nguyên với quan niệm ngày 24/12 là ngày tái sinh Mặt trời. Càng về sau, cây thông Noel có màu xanh vĩnh cửu tượng trưng cho sự sống được trang trí hoa, trái, lúa mì… càng phát ra bao nhiêu ánh sáng truyền thuyết mới.

Lại có quan niệm ngày đó là ánh sáng nơi Thiên giới đem hạnh phúc đến cho trần gian, nhất là với những người nghèo nên cây thông Noel luôn được trang trí thêm ánh sáng và ngôi sao trên đỉnh tượng trưng cho phép màu của Thượng đế. Ăn sâu bộ rễ khỏe mạnh vào mảnh văn hóa Cơ Đốc giáo, hướng thẳng lên Thiên Đàng, cây thông tượng trưng cho tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Điều này lý giải ở Mỹ, thông được trồng nhiều trong nghĩa trang biểu trưng sự sống vĩnh viễn hướng lên Thượng đế, quả thông tượng trưng cho sự tái sinh.

image003.jpg -1
Cây thông Noel.

Tất nhiên, trong văn hóa phương Đông cây thông cũng rất được coi trọng, nhất là ở xứ lạnh. Người Hàn Quốc coi thông biểu trưng cho tuổi thọ và đức hạnh, sự mạnh mẽ và thông thái. Nhà nào có trẻ mới sinh, ở cửa sẽ cài một cành thông là một cách chúc phúc gia đình thêm hạnh phúc mới, đứa trẻ sau này sẽ hiện thực hóa niềm ước mơ tốt đẹp của gia đình.

Cây thông của người Trung Hoa, ngoài biểu trưng cho tuổi thọ, đức hạnh còn để nói về nỗi niềm cô đơn, tính khí cương trực ngay thẳng, không bao giờ thay đổi chịu hạ mình trước tai ương. Vì lẽ này trong hội họa cổ điển Trung Quốc, cây thường được vẽ cùng chim hạc hoặc núi non lẻ bóng nhưng hùng vĩ, thâm trầm. Vị thần trường thọ là Thọ Tinh thường được vẽ đứng dưới gốc thông.

Để xứng đáng với di sản vĩ đại của Khổng Tử, người ta trồng ở nơi yên nghỉ của vị Tổ đạo Nho cả một rừng thông gọi là Khổng Lâm. Năm 1994, Khổng Lâm được UNESCO công nhận Di sản thế giới. Cây thông ở Nhật Bản ngoài ý nghĩa trường thọ, đức hạnh còn biểu trưng cho tuổi trẻ nam tính mạnh mẽ, tràn trề sức trẻ, bất chấp thời tiết cuộc đời nóng lạnh, gió mưa vẫn vươn cao tỏa lá cành xanh ngát… Hình tượng cây thông, cành thông thường được họa tiết trang trí trên áo giáp hay đao Katana của các Samurai.

Ở Việt Nam, cây thông thân thiết với dân tộc Dao đỏ đến mức luôn được cách điệu trên các trang phục truyền thống. Trong các lễ cưới người Dao, không chỉ có ở cô dâu chú rể mà cả với nhiều người tham gia, thường có miếng vải đỏ vắt chéo người luôn được đính chiếc lá thông bạc. Trong nhà cũng treo vải đỏ có các lá thông bạc này mang ý nghĩa ngăn không cho cái xấu vào, để chỉ có niềm vui, may mắn, hạnh phúc hân hoan cùng đôi vợ chồng trẻ…

Trong văn chương trung đại Việt Nam có nhiều cây thông lớn được nhiều thi nhân trồng, chăm sóc, quý mến đến mức nhập thân vào, để rồi sau này nhắc đến tên là nhắc tới cây, vì đó cũng là biểu tượng của nhân cách họ. Vĩ đại nhất, cô đơn, cũng cường tráng, uy vũ nhất là cây thông Nguyễn Trãi: “Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thuở ba đông/ Lâm tuyền ai rặng già làm khách/ Tài đống lương cao ắt cả dùng/ Đống lương tài có mấy bằng mày/ Nhà cả đòi phen chống khỏe thay/ Cội rễ bền dời chẳng động/ Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày/ Có thuốc trường sinh càng khỏe thay/ Hổ phách, phục linh nhìn mấy biết/ Dành còn để trợ dân này”.

Cây “Tùng” này được bao bọc hai lớp vỏ ngôn ngữ, vỏ ngoài xù xì, gân guốc tả cây tùng ngoài đời với các nghĩa cổ điển: cô đơn chống chọi giá rét, để làm nhà, làm thuốc giúp dân... Bóc cái vỏ ngoài thì hiện ra lớp ngôn từ Nguyễn Trãi đối thoại với chính mình, mà câu “Đống lương tài có mấy bằng mày” mang tính chìa khóa mở ra thế giới tâm sự u uất đến đau đớn: có ai tài năng bằng (ta) đâu mà sao lại không được trọng dụng? Lớp ngôn ngữ tâm sự bên trong này mới làm nên giá trị đích thực của kiệt tác. Nếu chỉ thấy cái vỏ bề ngoài thì Nguyễn Trãi chẳng khác Đào Uyên Minh, Trần Tử Ngang, Lý Bạch, Đỗ Phủ… từng có thơ hay về tùng.

Nguyễn Công Trứ trong bài “Vịnh cây thông”: “Ngồi buồn mà trách ông Xanh/ Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười/ Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo/ Giữa trời vách đá cheo leo/ Ai mà chịu rét thì trèo với thông”.

Có khác gì những cây thông trước đó được trồng dày đặc và tỏa bóng rợp cả khu rừng văn học trung đại phương Đông? Có thể chấp nhận một ý kiến mang tính tìm tòi: bài thơ có ánh xạ của “tam giáo đồng nguyên” với hai câu đầu mang quan niệm Lão giáo (trách trời); hai câu sau ảnh hưởng thuyết luân hồi Phật giáo; hai câu cuối mang tinh thần Nho giáo (quan niệm về bậc quân tử).

Nhiều ý kiến coi bài thơ khẳng định phẩm chất con người tự do, thỏa chí, chịu đựng, khó khăn, thử thách… Nếu vậy cây thông Công Trứ cũng chưa vượt ra khỏi bầu trời mỹ học cổ điển. Đối chiếu với phong cách “ngông”, với cuộc đời tài năng nhưng ba chìm bảy nổi, có thể hiểu đó là lời thách thức kiêu hãnh với đời, với số phận!?

Chỉ là những kiến giải cá nhân, xin bài bạn góp thêm!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).