Mở ra những cánh cửa!

Cổ tích Việt Nam có câu chuyện “Cây khế” giáo dục sâu sắc về chữ “Tham”. Người em nghe lời chim đại bàng “may túi ba gang” đến đảo xa lấy vàng ngọc mà từ nghèo khổ trở nên giàu có sung sướng. Trái lại, người anh “may túi mười hai gang” nên kết quả không chỉ là vàng ngọc rơi xuống biển mà anh ta còn phải trả giá bằng cái chết.

Chưa thể khẳng định đây là một kết tinh của tiếp biến văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt nhưng câu chuyện cắt nghĩa chữ “Tham”, đúng như lời nhà Phật thì nó là đầu mối sinh ra mọi câu chuyện tiêu cực, tác hại khôn lường. Bài học dạy người ta phải thật thà, hiền lành, lấy đó làm nền tảng để xây dựng ngôi nhà nhân cách vững vàng trước mọi bão tố cám dỗ.

image001.jpg -0
Chữ “Nhẫn”!

Phật tích còn ghi lại câu chuyện thấm thía có tên là “Con chim ưng và bậc quân vương” kể có một vị vua tài giỏi đánh đâu thắng đấy, đã vậy ông còn có tính thương người nên rất được lòng dân. Một hôm cùng con chim ưng đi săn trong rừng, khát nước ông tìm đến chân núi nơi có dòng suối chảy định bụng uống cho thỏa. Vừa đưa cốc nước lên miệng thì bỗng đâu con chim ưng sà tới hất bay. Thấy lạ nhưng ông vẫn tiếp tục. Lại bị con chim hất tiếp. Ông nổi nóng nhưng cố nén. Đến lần thứ ba thì không kìm được, ông rút gươm chém bay đầu chim quý.

Chim chết làm ông bừng tỉnh. Vì nó là cánh tay phải của ông. Nó báo tin chính xác về kẻ thù. Nó mách hướng đi an toàn. Nó kiếm thức ăn lúc ông bị đói... Thẫn thờ, bàng hoàng quên cả khát, ông trèo ngược lên núi xem sự thể ra sao. Ông rùng mình rồi khụy xuống. Giữa suối có một con rắn rất độc bị chết đã thối rữa... Nếu uống nước suối ấy thì cầm chắc cái chết! Thế là trong một giây nóng giận ông đã giết chết ân nhân của mình!

Phật luôn dạy môn đệ của mình cố mà tránh “tham, sân, si”. “Sân” có nghĩa là nóng giận. “Si” có nghĩa là mê đắm, mê muội. Nhưng người ta cho rằng, người trần chỉ cần tránh hai chữ đầu là đủ. Ông Anhxtanh – nhà bác học vĩ đại của thế giới rất mê và tin Phật giáo cũng khẳng định điều đó!

Hình như nhờ thế mà phương Đông ít chiến tranh hơn. Con người cũng điềm đạm hơn!

Nhưng ở phương Tây xa xôi thì chiến tranh cứ liên miên. Thần thoại Hy Lạp cổ cắt nghĩa, lý giải nguyên nhân bằng hình tượng quả táo, cũng là cách mượn thế giới thần thánh để nói về con người hạ giới. Trong một bữa tiệc do thiên đình tổ chức, vì bị quên mời nên giận dỗi, tức tối, nữ thần Bất hòa nghĩ cách gây sự. Thần bèn lăn ra bàn một quả táo vàng có khắc chữ “Tặng người đẹp nhất”. Các nữ thần đều muốn mà chẳng ai dám cầm, chỉ có ba tiên nữ nhất định muốn sở hữu để khẳng định mình là người đẹp nhất: Hê-ra - vợ Thần Dớt, vua của các vị thần; nàng A-tê-na - nữ thần Trí tuệ; nàng Vệ nữ - nữ thần Sắc đẹp và Tình yêu.

Chẳng ai chịu ai, thiên đình đành nhờ Pa-rit - chàng trai đẹp nhất châu Á phân xử. Là người trần nên Pa-rit dễ xiêu lòng trước lời hứa sẽ giúp mình làm chồng một người đẹp nhất châu Âu mà chàng xử phần thắng cho thần Vệ nữ. Không ngờ đấy là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh mười năm giết hại biết bao sinh linh giữa hai bên là Tơ-roa và Hy Lạp. Từ đấy loài người lấy hình tượng “quả táo bất hòa” để chỉ nguyên nhân gây ra những xung đột, bạo lực là do không nhường nhịn nhau… Dưới góc nhìn Phật giáo thì nguyên nhân cũng chỉ là do “tham”. Cả ba tiên nữ đều tham cái danh hiệu không đâu để cho loài người hạ giới khốn khổ!!!

image003.jpg -0
Nín nhịn mới gặp điều lành!

Xu hướng chung của thế giới vẫn là giao lưu, đối thoại nên luận điểm “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây” đã lạc hậu. Để giải quyết bất hòa, tháo ngòi nổ xung đột ở tầm khu vực và quốc tế, hiện nay thế giới đang đổ dồn về nghiên cứu phương Đông, chú mục vào các bài giảng về hòa bình của hai tôn giáo/triết học lớn là đạo Phật và đạo Nho đã tìm ra nguyên nhân bất hòa xung đột, tìm thấy cái chìa khóa có thể mở ra hòa bình không chỉ cho các quốc gia mà còn cho mọi cá nhân. Đó là chữ “Tham” và chữ “Nhẫn” mang tầm phổ quát cho cả nhân loại.

Muốn loại bỏ “tham” phải dùng chữ “nhẫn”. Trong tiếng Hán chữ “nhẫn” được ghép từ chữ “đao” ở trên và chữ “tâm” ở dưới, tức con dao nằm ngay trên tim. Hàm ý tượng hình của “nhẫn” là nếu không giữ được cái tâm yên ổn, nhẫn nhịn thì lưỡi dao sẽ rơi xuống tim vô cùng nguy hiểm. Lại có thể “chiết tự” chữ “nhẫn” cấu thành bởi 3 bộ: bộ “đao”, bộ “phiệt” ghép cùng chữ “nhận” để chỉ một thứ vũ khí. Chữ “nhận” ghép với chữ “tâm” thành chữ “nhẫn”, ý nói dù có bị kẻ khác vô cớ gây sự nhưng nhờ chữ “tâm” nhẫn nhịn mà có thể đổi dữ thành lành...

Cả Nho và Phật dùng chung ý nghĩa chữ “nhẫn” là sự nín nhịn, chịu đựng. Phật giáo cụ thể hơn chia “nhẫn” thành 3 phương diện gắn liền với mỗi người: Thân nhẫn (hành động nhẫn), khẩu nhẫn (ăn nói nhẫn nhịn, mềm mỏng) và ý nhẫn (ý chí nhẫn nhịn). Phật còn dạy để có “hạnh nhẫn” tức con người tự điều chỉnh được ý muốn không bị dục vọng lôi kéo phải đảm bảo được 3 điều: Không oán hận kẻ gây hại cho mình (oán hại nhẫn); chịu đựng mọi sự khó khăn, đau khổ (an thọ khổ nhẫn); thấy được bản chất sự vật (đế sát pháp nhẫn). Được vậy thì mới đạt trí tuệ, từ bi để giải thoát!

Ông tổ Đạo Nho là Khổng Tử dạy: “Việc nhỏ không nhẫn, việc lớn ắt hỏng”. Ông đề cao “chính nhân quân tử” với lối ứng xử “không có điều gì phải tranh giành”, tức kẻ quân tử không cần tranh giành lợi lộc, ngôi thứ. “Luận Ngữ”, một bộ sách rất quan trọng của đạo Khổng còn ghi câu chuyện Khổng Tử dạy học trò Tử Lộ: “Răng cứng nên mới dễ gãy, lưỡi mềm mới dễ bảo tồn. Mềm mại nhất định thắng cứng rắn, nhỏ yếu lại có thể thắng lớn mạnh. Ham tranh đấu nhất định sẽ bị tổn thương, một mực khoe dũng mãnh nhất định sẽ dẫn tới diệt vong. Thái độ căn bản để làm mọi việc là: Nhẫn nhịn là tốt nhất”. Ông đề cao tính điềm đạm và coi sự “phẫn nộ” nóng nảy sẽ làm quên cả người nhà và chính bản thân. Môn đệ của ông truyền nhau bài học chữ “nhẫn” của Lạn Tương Như.

Liêm Pha và Lạn Tương Như đều là công thần, danh tướng nước Triệu. Liêm Pha trưởng thành từ sa trường đánh Đông dẹp Bắc còn Tương Như nhờ sự tinh nhanh tháo vát và gặp may mà đi lên. Liêm Pha coi thường rồi ghen tức công khai đố kỵ Tương Như. Biết vậy nhưng Tương Như vẫn bình thản nín nhịn, chỉ không chịu gặp mặt Liêm Pha, có thấy cũng cố tránh. Có người thấy thế khích Tương Như rằng thế là chịu nhục. Vạn bất đắc dĩ Tương Như mới giãi bày sở dĩ nước Tần hùng mạnh không dám xâm phạm nước Triệu là vì có Tương Như ta và Liêm Pha tướng quân. Hai con hổ đánh nhau tất cả hai đều phương hại. Ta vì nước mà nhẫn nhịn thì có gì nhục! Liêm Pha nghe được, hiểu ra bèn thân hành đến nhà Tương Như tạ lỗi. Nước Triệu từ đó càng mạnh lên!

Sau này để nhắc nhở răn dạy người tu hành, nhà Phật hay lấy hình tượng Đường Tăng trong “Tây du ký” tuy người trần mắt thịt nhưng nhờ giàu có ý chí, tính tình điềm đạm, kiên nhẫn mới có thể thu phục Tôn Hành Giả và Trư Bát Giới để hàng phục yêu quái mà đến được nước Phật. Yêu quái ở đây chính là biểu tượng cho những gian nan vất vả ở đời. Kinh Phật là biểu tượng cho lý tưởng ở đời. Còn đạo Nho hay lấy tấm gương kẻ quân tử là Lưu Bị trong “Tam quốc diễn nghĩa” vô cùng kiên trì, nhẫn nại mời Khổng Minh làm quân sư nhờ vậy mới nổi cơ đồ.

Các nhà nghiên cứu phương Tây còn tìm sang cả Đạo Giáo cũng thấy quan niệm “Lạt mềm buộc chặt” (theo một thành ngữ Việt Nam). Lão Tử giảng giải con người ta tuân theo đạo Trời thì đừng giành giật nhau sẽ bình an... Sau này các môn đệ Đạo Giáo khái quát lời dạy của Thầy thành “chân truyền”: “Tha thứ, tha thứ, tha thứ, các tai họa sẽ biến mất. Nhẫn nhịn, nhẫn nhịn, nhẫn nhịn, kẻ thù sẽ không còn!”

Người ta cũng tìm thấy trong văn hóa Việt có những câu vàng ngọc, như: “Một điều nhịn là chín điều lành”. Người Việt còn có cả một bài học đạo lý làm châm ngôn giữ gìn hòa bình cho cả mọi quốc gia, cho mọi gia đình: “Cái gốc trăm nết/ Nết nhẫn nhịn là cao/ Cha con nhẫn nhịn nhau/ Vẹn tròn đạo lý/ Vợ chồng nhẫn nhịn nhau/ Con cái khỏi bơ vơ/ Anh em nhẫn nhịn nhau/ Trong nhà thường êm ấm/ Bạn bè nhẫn nhịn nhau/ Tình nghĩa chẳng phai mờ!”

Thì ra cuộc đời có nhiều cánh cửa. Mở ra cánh “Tham” sẽ bước vào thế giới chiến tranh, loạn lạc, mất mát, đau buồn. Mở ra cánh “Nhẫn” sẽ bước vào không gian thái bình, an lạc, thanh nhàn.

Nhưng cánh “Tham” thì dễ mở, cánh “Nhẫn” thì cực khó!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).