Mô hình con người trong thơ văn Lý, Trần!

Ở bất kỳ thời nào thì con người cũng luôn là tấm gương soi, nhìn vào đó sẽ biết được bản chất xã hội của thời ấy. Các triều đại thời Lý, Trần đã kiến tạo mô hình con người “an dân” đặc sắc, nhìn từ hôm nay sẽ thấy đó là một đóng góp về triết học con người rất nên được tìm hiểu, học tập, kế thừa.

Bên cạnh “hộ quốc”, “an dân” là tư tưởng lớn của Phật giáo Lý, Trần - một điểm tựa cho công cuộc bảo vệ, kiến thiết đất nước. “An dân”, xét đến cùng là làm “an” lòng người. Cách đuổi giặc tốt nhất cũng là “đánh” vào lòng người (tâm công). Thời Lý, Trần cực thịnh có lý do chính, là nhà nước phong kiến biết cách “an dân” bằng con đường Phật giáo.

Mô hình con người trong thơ văn Lý, Trần! -0
Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Một nét son đáng quý của Phật giáo Lý, Trần điểm vào lịch sử tư tưởng Việt Nam là đưa ra một triết lý sống cởi mở không chấp tướng, không giáo điều, không nệ hình thức, không câu thúc thời gian địa điểm. Là tư tưởng tôn giáo nhưng mang tính phổ quát cho mọi người nên ai cũng có thể học và tu hành theo Phật được. Cơ bản nhất là biết, hiểu rõ tâm mình, chuyển hóa cái tâm hướng về cái thiện, cái chân.

Vua Trần Thái Tông gọi đó là “biện tâm”: “Không kể là sống ẩn trên núi hay giữa thành thị, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện tâm, vốn không phân biệt nam nữ sao còn chấp tướng”. Thế nên Tuệ Trung Thượng Sĩ, dù được tôn xưng là bậc Thầy trong đạo vẫn có thể hồn nhiên ăn thịt với quan niệm “Phật là Phật, ta là ta”. Các vị ấy là hiện thân của mẫu người hài hòa Đạo, Đời trọn vẹn sự từ bi, trí tuệ, trọn vẹn trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước non sông.

Khái niệm “tu tâm” của Phật giáo gần với khái niệm “tu thân” của Nho giáo ở chỗ đều khuyên con người trau dồi nhân cách hướng về cái trong sáng, thiện lành. Xét đến cùng, “cái tâm” là nền móng của ngôi nhà nhân cách, nên cũng có thể hiểu “tu tâm” là cái gốc của “tu thân”.

Giáo dục học hiện đại của thế giới đang truy tìm lý do vì sao ngày nay con người thông minh hơn nhưng độc ác hơn? Vì bị stress, vì lòng tham vô độ, vì ghen ghét, đố kỵ… Nhưng những điều ấy, nhà Phật đã nói trước mấy ngàn năm khái quát trong ba chữ “tham, sân, si”. Soi tư tưởng Thiền học Lý, Trần vào hôm nay sẽ phần nào lý giải câu hỏi trên: là do con người sa vào tình trạng bất an, mà ngay từ thời đó đã khắc phục bằng cách tạo ra sự an yên trong tâm mỗi người. Phương tiện tốt nhất là bằng thơ văn.

Nhờ vậy, nhìn vào văn chương Lý, Trần sẽ thấy một mô hình con người lý tưởng có cái tâm tĩnh, an nhiên, thư thái, hướng về cái đẹp. Nhờ cái gốc vững ấy mà con người sống yêu thương nhau, vì nhau, có thể xả thân vì cái chung… Điển hình cho mô hình con người “tu tâm” là Trần Nhân Tông - vị Phật hoàng của chúng sinh. Cả xã hội hôm nay đang vào cuộc chống tham nhũng - một “quốc nạn”, tại sao không lấy tấm gương tuyệt vời của một vị vua nhẹ nhàng từ bỏ quyền lực, cung vàng, điện ngọc… để tu hành, xét kỹ cũng là vì mục đích làm dân hạnh phúc hơn? Thời hôm nay, có ai như thế, dám thế?!

Nên hiểu rộng rãi “tâm” không chỉ là tình cảm, tấm lòng, còn là sự làm chủ cả tư tưởng, hành vi. Bản lĩnh hình thành trong gió bão, trí tuệ hình thành trong tĩnh lặng. Tâm tĩnh mới có trực cảm tâm linh nhận ra chỗ không tâm để đạt đạo. Phải sống hết mình mới thấu lẽ đời. Phải qua thực tế hành đạo mới thấm thía lẽ đạo. “Tu tâm” không chỉ là ngồi thiền mà trước hết phải sống đời, vì lẽ đời mà hành động sao cho có ích cho nhân quần. Hiểu rộng ra, muốn hiểu được lẽ của tạo hóa, phải “tu tâm”.

Tư tưởng ấy được thể hiện trong “Thị đệ tử” (Bảo các đồ đệ) của Thiền sư Vạn Hạnh: “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô/ Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô/ Nhậm vận thịnh suy vô bố úy/ Thịnh suy như lộ thảo đầu phô” (Đời người như bóng chớp, có rồi không/ Vạn thứ cây mùa xuân tốt tươi, mùa thu khô héo/ Đạt đến thông hiểu rồi thì sự thịnh suy không sợ hãi/ Thịnh suy chẳng qua như giọt sương treo đầu ngọn cỏ” (Thơ văn Lý -Trần (1977), tập 1. NXB Khoa học xã hội, tr 218). Thì ra bản chất con người là vô ngã, bản chất thế sự là vô thường. Hiểu được chân lý ấy con người sẽ bớt đi sự khổ đau, sân hận, ghét ghen…

Nhưng làm gì để “đạt đến sự thông hiểu”? Phải học, tự nghiền ngẫm mới có thể “ngộ” được chân lý. Chứ học cho có học thì may ra chỉ nhận được cái vỏ chữ mà thôi. Phải sống hết mình, lao lực và tận tâm để thấm thía cái đau khổ, được mất ở đời chỉ là phù du, hư ảo. Đời người như chớp bóng, có rồi không. Tự nhiên vẫn tuần hoàn. Chỉ khi con người ta vượt qua được cái bề ngoài của được mất, hơn thua, tốt xấu mới tiệm cận được cái bất biến (tùy duyên bất biến). Soi điều này vào hôm nay mới thấy cái giả, nhất là nạn học giả đang là một trong những nguyên nhân gây nên sự suy thoái đạo lý đáng buồn.

Vua Lý Thái Tông có bài kệ “Thị chư thiền lão tham vấn thiền chỉ” thật sâu sắc, rất thiền: “Bát nhã chân vô tông/ Nhân không, ngã diệc không/ Quá hiện vị lai Phật/ Pháp tính bản tương đồng” (Trí tuệ bát nhã không thuộc tông phái nào/ Không phải người, cũng không phải ta/ Các vị Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai/ Vốn cùng chung một Pháp tính” (Sách đã dẫn, tr 242). Như vậy, con người bản thể vô ngã, duyên sinh cũng là một “Pháp”. Nhưng “tu tâm” thế nào để hướng về Phật “cùng chung Pháp tính”? Phải hiểu rõ sự “vô thường” - một quy luật của tự nhiên để vượt lên mà vươn tới cõi chân như giải thoát.

Mô hình con người trong thơ văn Lý, Trần! -1
Chùa Một Cột - một kiến trúc thời Lý.

Bên cạnh “tu tâm”, con người cần “tu chí” rèn luyện bản lĩnh chinh phục vũ trụ. Với tinh thần nhập thế, các thiền sư cũng đồng thời là các nhà thơ cùng tham gia chính sự. Họ trở thành những trụ cột trong ngôi nhà lớn quốc gia, dân tộc. Thơ họ mạnh mẽ một lòng quyết tâm của tráng sĩ hành động vì nước vì dân.

Thiền sư Quảng Nghiêm có một “Thị tật” (Cáo bệnh với mọi người) như một tuyên ngôn cho ý chí, hành động vươn lên chinh phục vũ trụ: “Li tịch phương ngôn tịch diệt/ Khứ sinh hậu thuyết vô sinh/ Nam nhi tự hữu xung thiên chí/ Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” (Thoát kiếp rồi bàn câu tịch diệt/ Không sinh hãy nói chuyện siêu sinh/ Tài trai có chí xông trời thẳm/ Giẫm vết Như Lai luống nhọc mình” (Sách đã dẫn, tr 521).

Câu “Nam nhi tự hữu xung thiên chí” (Tài trai có chí xông trời thẳm) không còn là thơ ở ngày ấy mà là của hôm nay, của ngày mai; không còn là thơ của một thiền sư mà là của tất cả “nam nhi” mọi thời. Câu “Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” (Giẫm vết Như Lai luống nhọc mình) không còn là lời khuyên, lời giáo huấn của Thiền tông mà là của chính phương pháp luận nghiên cứu khoa học trong thời đại văn minh hôm nay: phải biết tìm ra hướng đi riêng, mới có thể có kết quả riêng. Không chịu đổi mới, đi theo hướng cũ thì “nhọc mình” mà “chẳng nên công cán gì”. Đó chính là “mỹ học của cái Khác” mà thời nay đang hay nói!

Tinh thần khai phóng, phá chấp khoáng đạt của Thiền tông đã góp công lớn trong việc mở ra cho thời đại/văn học Lý, Trần cả một chân trời tư tưởng. Có lẽ thời nào cũng vậy, tư tưởng thời đại không rập khuôn giáo điều, không đi theo lối cũ, tự tạo ra hướng đi mới mẻ, thì thời đó sẽ gặt hái thành quả tốt đẹp. Giai đoạn Lý, Trần là một thời đại như vậy. Ngay trong giới thiền sư, tưởng rằng chỉ biết “tụng kinh” trong tòa bảo tháp, thế mà lại có tư tưởng tiên phong đổi mới, đến hôm nay còn làm ngạc nhiên bao người.

Xin giới thiệu tác phẩm “Cảm hoài” (Sách đã dẫn, tr 482) của Thiền sư Bảo Giám: “Đắc thành chánh giác hãn bằng tu/ Chỉ vị lao lung, trí tuệ ưu/ Nhận đắc ma ni huyền diệu lý/ Chỉ như thiên thượng hiển kim ô” (Thành được chính giác, ít khi dựa vào tu hành/ Vì tu hành chỉ là giam cầm cái ưu việt của trí tuệ/ (Cần) nhìn thấy đạo lý huyền diệu của hòn ngọc ma ni/ Thì đúng như mặt trời rực rỡ trên không). Ai cũng có viên ngọc “ma ni” của riêng mình, đó là lý tưởng, là ánh sáng soi cho mình đi trên đường đời. Để thành được “chính giác” phải tự mình chứ đâu nhờ ai. Ngày nay, thế kỷ XXI này, nhân học văn hóa quan niệm thế. Đó cũng là quan niệm của triết học Thiền tông Lý, Trần - một kho vàng tư tưởng, cách nay cả gần ngàn năm, tức đi trước thế giới cả gần ngàn năm.

Hôm nay chúng ta tự hào về quá khứ vẻ vang của cha ông mình nhưng cũng tự ngậm ngùi rằng thế hệ sau chưa kế thừa, phát huy hết được cái tinh hoa của tiền bối (!?).

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).