Màu áo giai nhân

Một triết gia đã nói, “cái đẹp không ở trên má hồng người thiếu nữ mà nằm trong đáy mắt kẻ si tình”, toàn bộ những biểu hiện hình thức của người phụ nữ có thể nằm lại trong ký ức hay cảm nhận của người đàn ông. Tôi đã từng có những tiểu luận về các bộ phận trên cơ thể, về mùi hương của người phụ nữ...; nên lần này, xin được bàn về màu áo của các giai nhân.

1. Nhắc đến màu áo của giai nhân là nói đến sự chiêm ngưỡng, ngắm nhìn. Trong sự xúc động của người đàn ông, đôi khi chàng trai chưa định hình nổi về màu áo ấy bởi sự xuất hiện của người mình yêu đã làm choáng ngợp tất cả không gian. Và chàng chỉ kịp gọi tên đó là “màu áo mới”: “Mùa xuân vừa đến, hoa về trên những bàn tay. Và em vừa đến, thay màu áo mới vì anh. Nguyện cho ngày tháng, êm đềm hơn những sớm mai. Những nhọc nhằn chóng quên, nơi cuối đường có em, riêng chờ đợi anh” (Chân tình - Nhạc và lời: Trần Lê Quỳnh).

Khi người đàn ông bình tĩnh hơn trong cảm xúc, có sự quan sát từ xa tới gần hoặc khi đang là một nỗi nhớ nhung, tưởng tượng, màu áo ấy sẽ hiện rõ hình hài với muôn vàn cung bậc. Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn là người đã viết nên rất nhiều tình khúc về mùa thu, trong đó, màu áo xanh trở đi trở lại trong các bài hát của ông như một ám ảnh đặc biệt: “Với bao tà áo xanh đây mùa thu/ Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ” (Gửi gió cho mây ngàn bay), “Em còn nhớ anh nói rằng/ Khi nào em đến với anh/ Xin đừng quên chiếc áo xanh/ Em ơi, có đâu ngờ đến rằng/ Có màu nào không phai/ Như màu xanh ái ân” (Tà áo xanh).

Màu xanh ấy, từ chỗ là màu áo của thiên nhiên, màu áo của con người, rồi đến màu xanh của ân ái tàn phai, dường như đã đi hết một hành trình - tâm trạng - cảm xúc của người nghệ sĩ. Màu áo xanh còn xuất hiện trong những nhạc phẩm nổi tiếng, và nó được gọi tên theo một cách khác: “Màu áo thiên thanh thơ ngây ngày nào/ Chìm khuất trong mưa, mưa bay dạt dào/ Đọc lá thư xưa một trời luyến tiếc/ Nhớ môi em và màu mắc biếc...” (Lệ đá - Nhạc: Trần Trịnh, thơ: Hà Huyền Chi).

Gần gũi với màu áo xanh là màu áo tím. Tà áo tím ở người con gái thường gợi lên sự thơ ngây, tươi trẻ, nhưng hơn thế nữa là một cảm giác về lòng chung thủy. Đi vào thi ca, nổi tiếng nhất phải kể đến thi phẩm “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” của nhà thơ Kiên Giang, viết từ năm 1958, về sau được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc thành ca khúc cùng tên, góp phần chắp cánh và tạo thêm một đời sống nữa cho thi phẩm. Màu áo tím trong bài thơ của Kiên Giang cũng đi trong một hành trình của nó, từ thuở còn là một nữ sinh e ấp, cho đến lúc nàng lên xe hoa, rồi đến khi nàng từ giã cuộc đời.

Tà áo trắng nữ sinh gợi biết bao cảm hứng trong sáng tạo văn chương và hội họa.
Tà áo trắng nữ sinh gợi biết bao cảm hứng trong sáng tạo văn chương và hội họa.

Trái tim người trai cũng theo đó mà trải qua bao cung bậc, từ hồi hộp nhớ nhung, rồi buồn bã xót xa và cuối cùng là đớn đau tan nát: “Hoa trắng cài duyên trên áo tím/ Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh (...) Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo/ Khi nàng áo tím bước vu quy (...) Hoa trắng thôi cài trên áo tím/ Mà cài trên nắp áo quan tài... Xe tang đã khuất nẻo đời/ Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu...”.

2. Sự trong trắng thơ ngây của người con gái còn gắn với màu áo trắng, và gam màu này có lẽ mang tính điển mẫu cao nhất của một thời thiếu nữ. Bắt đầu là những màu áo trắng của nữ sinh thuở học trò: “Thướt tha áo trắng nói cười/ Để ta thương nhớ một thời áo nâu/ Tóc hoe hoe chát trên đầu/ Ta cùng bạn gái cưỡi trâu học bài/ Áo trắng là áo trắng ai/ Buồn phơ phất buổi ban mai đến trường/ Long lanh ngọn cỏ hạt sương/ Song song chân đất con đường xa xa” (Áo trắng má hồng - Nguyễn Duy). Rồi đến lúc bước vào tình yêu, màu áo trắng ấy có thể là một đắm chìm mênh mang: “Anh về giữa một dòng sông trắng/ Là áo sương mù hay áo em” (Nguyên Sa), lại có thể là một hạnh phúc nhạt nhòa, ngoài tầm tay với: “Mơ khách đường xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà” (Đây thôn Vỹ Dạ - Hàn Mặc Tử).

Khi người con gái bước chân lên xe hoa, màu áo trắng thơ ngây ngày nào rất có thể được thay bằng màu áo hồng. Màu áo hồng ấy có khi là một sự giả định: “Anh ngủ thêm đi anh/ Em phải dậy lấy chồng/ Mùa thu vừa rụng lá/ Lòng em đã sang đông (...)Nhưng anh đã không thể/ Mạnh mẽ để làm chồng/ Cởi áo mà không dám/ Mặc cho em váy hồng” (Nồng Nàn Phố). Và màu áo hồng ấy cũng có lúc là một hiện thực đầy ly biệt: “Buồn vương màu áo hồng/ Nước mắt theo em đi về với chồng/ Giá băng cơn mộng/ Một mình anh bước đi âm thầm” (Buồn vương màu áo - Nhạc và lời: Ngọc Trọng).

3. Màu áo của người con gái có khi mang những gam nóng, thật rực rỡ mãnh liệt như thiêu đốt hết bao ánh nhìn: “Áo đỏ em đi giữa phố đông/ Cây xanh như cũng ánh theo hồng/ Em đi lửa cháy trong bao mắt/ Anh đứng thành tro em biết không?” (Áo đỏ - Vũ Quần Phương). Cũng rực rỡ nhưng theo một cách khác là màu áo vàng: “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc” (Nguyên Sa), “Thì thôi chào em biết làm sao được/ Áo vàng ráng mây tím chiều biển biếc/ Đuôi mắt em dài đâu để cầm tay/ Tiễn bạn qua đèo khúc hát dễ mê say” (Đà Nẵng - Nguyễn Hùng Vỹ).

Và cũng có lúc, trong thi ca, tôi bắt gặp một màu áo ảm đạm, bi ai, buồn thương của người con gái. Đó là màu áo đen người thiếu phụ trong bài thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ: “Nàng choàng chi màu đêm/ Bộ áo đen như chiếc quan tài/ Khâm liệm bao lỗi lầm vương vãi/ Chẳng thể chôn những ảnh hình tan hiện...”. Phần cuối bài thơ, tác giả cố gắng đưa nhân vật của mình thoát ra khỏi vũng lầy bi kịch ấy: “Nhưng nàng ơi, cuộc đời không phải thế/ Mình tự chôn mình, ngu ngốc làm sao/ Hãy ngước nhìn trời cao sẽ thấy/ Xuân còn đầy, run rẩy, nôn nao...” (Người đàn bà).

4. Tuy tiểu luận này chú trọng về màu áo, nhưng tôi thấy sẽ thật thiếu sót nếu bỏ qua thi phẩm hết sức độc đáo của Bùi Giáng mang tên “Người con gái mặc quần”. Ở trong bài thơ, ta sẽ bắt gặp đủ các sắc màu thuộc xiêm y người phụ nữ, từ đỏ đến đen, từ trắng đến hồng, từ vàng đến tím. Nhưng cao hơn hết, tất cả các màu sắc ấy phải nhường chỗ cho sắc màu thanh cao, tinh khiết trong tâm hồn người con gái. Tâm hồn ấy, nhất định không một gam màu nào so sánh nổi: “Người con gái hôm nay mặc quần đỏ/ Vì hôm qua đã mặc chiếc quần đen/ Đen và đỏ là hai màu rồi đó/ Cũng như đời, đường hai nẻo xuống lên/ Người con gái hôm nay mặc quần trắng/ Vì hôm qua đã mặc chiếc quần hồng/ Hồng và trắng là hai màu bẽn lẽn/ Cũng như núi và rừng đều rất mực chênh vênh/ Người con gái hôm nay mặc quần tím/ Vì hôm qua đã mặc chiếc quần vàng/ Vàng và tím là hai màu mỉm miệng/ Mím môi cười và chúm chím nhe răng/ Người con gái hôm nay mặc quần rách/ Vì hôm qua đã mặc chiếc quần lành/ Lành và rách đều vô cùng trong sạch/ Bởi vì là lành rách cũng long lanh”.

5. Từ ý thơ của Bùi Giáng tiên sinh, tôi chợt ngộ ra rằng, xiêm y suy cho cùng chỉ là vật ngoại thân, góp phần tô điểm cho vẻ đẹp người phụ nữ. Bản thân cơ thể người phụ nữ đã là kiệt tác mà Tạo hóa ban tặng. Chính là khi thoát khỏi xiêm y, kiệt tác ấy mới bừng nở hết độ rực rỡ, tràn đầy và viên mãn của nó. Thế nên không phải ngẫu nhiên mà thi ca kim cổ từ Đông sang Tây đã có biết bao danh tác miêu tả và ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ khi không cần xiêm áo. Trong văn học của ta, ngay từ nửa cuối thế kỷ 18, nửa đầu thế kỷ 19, đại thi hào Nguyễn Du trong "Truyện Kiều" đã không hề ngần ngại khi hạ hai câu lục bát thần sầu: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”.

Thi ca lãng mạn của người Việt từ nửa đầu thế kỷ XX trở đi có thêm vô vàn những câu ca ngợi thân thể của người phụ nữ nữa, nhưng lúc này tôi lại muốn dẫn ra đây những câu văn xuôi trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh. Vẻ đẹp của người phụ nữ ở đây đã vượt lên trên bom đạn chiến tranh, vượt lên cả cái chết, vượt lên mọi hiểm nguy và đe dọa: “Bên trái lùm cây, cách chỗ Kiên không đầy chục bước, trên mỏm đá đen bóng như sơn mài, nổi nhô lên mặt nước sát ngay bờ, Phương của anh hoàn toàn khỏa thân, đang tắm.

Và mặc dù đang quỳ, vóc dáng trắng muốt của Phương vẫn lồ lộ, bởi vì đằng trước thì thông thống mặt đầm trải rộng, còn sau lưng chỉ là một bờ cỏ thâm thấp với vài lùm cây thưa thớt mọc làm vì. Phương ngước nhìn máy bay, nhìn trận mưa bom những cột lửa và những cồn khói sánh đặc, bốc dựng lên, song hầu như chẳng mảy may hoảng sợ...”.

Đã có một thời, không chỉ ở phương Đông mà ngay cả phương Tây, người ta cấm đoán việc miêu tả vẻ đẹp khỏa thân của người phụ nữ. Người ta coi đó là việc làm chống lại Thượng đế, chống lại con người, là  phạm trọng tội. Nhưng như những câu bất hủ mà văn tài Samuel Edwards đã viết trong kiệt tác “Bức họa Maja khỏa thân”, vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ mãi mãi là một tượng đài để nhân loại tôn vinh đến muôn đời. Nhân vật chính của thiên tiểu thuyết, họa sĩ thiên tài Goya, đã dõng dạc trả lời trước tòa án giáo hội Tây Ban Nha: “Thân thể trần truồng của đàn bà là tác phẩm tuyệt mỹ của Tạo hóa, còn ý thức về sự tà dâm, trần truồng ấy là sản phẩm của bản chất gian manh”.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).