Mặt trời cách mạng - Mặt trời chân lý!

Từ vai trò trong thực tế là đem lại sự sống, ánh sáng cho muôn loài, hình tượng mặt trời đi vào văn hóa, tôn giáo, đời sống tâm linh, trở thành một trong những cổ mẫu giàu có ý nghĩa nhất. Hầu như nền văn hóa nào cũng có thần Mặt trời sở hữu sức mạnh, quyền năng vô hạn...

Trong văn học, ngoài các nghĩa đen, mặt trời còn có vô vàn các nghĩa biểu tượng, là vĩ nhân, sự vĩnh hằng, ánh sáng soi đường, nguồn tri thức, sức mạnh, niềm tin, tình yêu, khát vọng... Trong văn chương Việt Nam hiện đại có hai hiện tượng đích đáng được so sánh với mặt trời là Chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh.

image001.jpg -0
Biểu tượng mặt trời trên trống đồng Ngọc Lũ.

1.Là người Việt Nam đầu tiên gặp gỡ, hiểu và vận dụng thành công Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, Bác Hồ cũng là người đầu tiên và hay sử dụng hình ảnh mặt trời để nói về vai trò chỉ lối vĩ đại của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin.

Với Cách mạng tháng Mười, Bác dùng các hình ảnh cái "cẩm nang", "kim chỉ nam", "mặt trời", "tiếng sấm", "ngọn đuốc", "ngọn đèn pha" - những ẩn dụ đắt giá, sinh động, phù hợp nhất để nói về ý nghĩa soi đường: "Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế" (Hồ Chí Minh toàn tập. 2011, tập 15, tr 387). "Như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối, cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người" (tập 11. Sđd, tr 159).

Ở hai ví dụ này, nét nghĩa tỏa sáng, soi chiếu, dẫn đường, mang lại ánh sáng, sự sống của mặt trời được "so sánh ngầm" với "Cách mạng tháng Mười" là hoàn toàn chính xác, giá trị biểu cảm cao. Nói về quy luật phát triển tất yếu của chủ nghĩa xã hội, Bác Hồ cũng dùng biểu tượng: "Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên" (tập 11. Sđd, tr 158). Lấy điểm tựa là một quy luật tất yếu của tự nhiên, làm bật ra một quy luật xã hội, tạo cho lập luận chắc chắn, thuyết phục, là một nét phong cách Hồ Chí Minh.

Ở ví dụ sau, Bác dùng các hình ảnh ẩn dụ phương Đông quen thuộc làm "nền" để bật ra hình ảnh mới: "Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái "cẩm nang" đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" (tập 12. Sđd, tr 563).

Cách so sánh giản dị nhưng nêu bật được tính ưu việt của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc tìm ra phương hướng, phương pháp giải quyết vấn đề ở những tình huống khó khăn nhất. Cấu trúc lời văn theo lối tăng cấp hình ảnh: cái "cẩm nang" - cái kim chỉ nam - mặt trời soi sáng, càng nêu rõ hơn sứ mệnh dẫn lối chỉ đường, sức sống, niềm tin, sức lan tỏa của chủ nghĩa khoa học, cách mạng, biện chứng này.

Cách dùng ẩn dụ như gieo vào người đọc một niềm tin: "Đố ai che được mặt trời/ Mặt trời cộng sản sáng ngời năm châu" (tập 13. Sđd, tr 329). Đây là hai câu thơ kết lại bài viết "Kiên quyết ủng hộ Đảng Cộng sản Mỹ" in báo ngày 28/1/1962 có nội dung phản đối chính quyền Mỹ bấy giờ o ép, tìm mọi cách ngăn cản Đảng Cộng sản hoạt động. Hình ảnh "mặt trời" vừa là sự thật chân lý, vừa gợi về niềm tin cộng sản sẽ trở thành niềm tin của nhân dân cả thế giới. Có một lần Bác dùng hình ảnh mặt trời nói về "Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của ta là chính nghĩa, quang minh chính đại như mặt trời" (tập 15. Sđd, tr 55), để khẳng định sức sống, tính chính nghĩa, tính tiên phong, tính soi đường của sự nghiệp chống đế quốc Mỹ do nhân dân Việt Nam tiến hành sẽ đi vào lịch sử nhân loại.

2.Các sáng tác văn chương, nghệ thuật so sánh Bác Hồ và Đảng ta như "mặt trời" cũng là một logic nghệ thuật. Như ánh mặt trời, lý tưởng Đảng Cộng sản rất đẹp mở ra cả một chân trời mỹ học mới trong thơ Tố Hữu, trong tâm hồn thế hệ trẻ trước 1945, nồng nàn, say mê: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lý chói qua tim/ Hồn tôi là một vườn hoa lá/ Rất đậm hương và rộn tiếng chim" (Từ ấy). Một không gian rực rỡ chói chang ánh sáng, xôn xao hình ảnh, ngạt ngào hương vị, rộn ràng âm thanh. Một tâm hồn say sưa, nhiệt huyết mong muốn hòa nhập tuyệt đối vào đời để hết mình cho đời. Đây là một trong những câu thơ hay nhất của thơ Việt Nam hiện đại, chỉ có được ở những tâm hồn đẹp, say mê, tận hiến cho lý tưởng.

Năm 1970, nhạc sĩ Tô Vũ sáng tác bài hát "Như hoa hướng dương" tươi tắn, trong trẻo mà sâu lắng, ấn tượng: "Như hoa hướng dương hướng về mặt trời/ Chúng ta nguyện đi theo Đảng, đời đời nguyện đi theo Đảng/ Hoa là hoa hướng dương, tắm trong là trong ánh sáng/ Chúng ta đi theo Đảng chỉ đường/ Mỗi chúng ta là một bông hoa nhỏ hướng dương". Dựa vào đặc trưng sinh học hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời, để ca ngợi Đảng ta vĩ đại, soi đường dẫn lối, còn chúng ta tự nguyện "đi theo Đảng" cũng là một cách tạo ra ánh sáng…

Tố Hữu rất thành công khi viết về Bác Hồ. "Sáng tháng Năm" là kỷ niệm, là ca ngợi: "Người rực rỡ một mặt trời cách mạng/ Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng/ Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người". Ngoài ý nghĩa tôn vinh, ca ngợi Bác đã đem ánh sáng soi đường cho dân tộc đi lên hạnh phúc, lối so sánh tương phản một cách triệt để (loài dơi hốt hoảng) vừa tôn thêm tầm cỡ đối tượng vươn tới tầm vũ trụ, qua đó ngầm đưa ra một nhận định: bè lũ phản động đi ngược lại ánh sáng tiến bộ, sẽ chịu sự phán xét của lịch sử.

Chỉ qua hai câu ngắn gọn hàm súc, tác giả Viễn Phương trong "Viếng lăng Bác" nói thật hay về tầm vóc một "Mặt trời" tỏa sáng cũng là tỏa ra chân lý: "Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/ Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ". Kín đáo và tinh tế, ý thơ nâng hình tượng Bác: mặt trời Bác (mặt trời trong lăng) và mặt trời tự nhiên cùng "soi chiếu", ánh xạ vào nhau, cho nhau.

Một trong những ca khúc phổ biến nhất, lắng đọng, thành kính, xao xuyến, vang ngân đi vào lòng người là "Bác Hồ - một tình yêu bao la" của Thuận Yến: "Bác đem ánh mặt trời xua màn đêm giá lạnh/ Bác đem mùa xuân về mang hoa đẹp cho đời/ Bác như bài dân ca ru em bé vào đời/ Bác như vì sao sáng sáng giữa trời bao la…".

Những ẩn dụ, những so sánh đắt đã làm rõ hơn trí tuệ, tài năng, tâm hồn lớn lao của Bác Hồ. Nhưng phổ cập rộng rãi hơn cả đến mức, ai cũng thuộc, ai cũng có thể hát, hát trong những cuộc vui, trong những lễ mừng công, cả trong chia tay "giã bạn"… là "Như có Bác trong ngày đại thắng" của nhạc sĩ Phạm Tuyên: "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng/ Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng/ Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông/ Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công…".

Không có hình ảnh mặt trời nhưng vẫn có cảm giác Bác Hồ như mặt trời đem đến ánh sáng hòa bình, ánh sáng thắng lợi. Ngoài hiểu theo nghĩa biểu tượng chung (Bác Hồ vĩ đại như mặt trời), xét theo từ nguyên, "huy hoàng" còn có nghĩa vẻ đẹp chói lọi, rực rỡ. (Chữ "huy" trong "huy hoàng" đồng âm, gần nghĩa với chữ "huy" có nghĩa là "ánh sáng mặt trời" trong "xuân huy" nghĩa "ánh nắng mùa xuân"; "tà huy" chỉ "ánh nắng chiều tà"). Nằm vị trí giữa bài hát, hai chữ "huy hoàng" tỏa sáng cả nhạc phẩm.

3.Trong kinh "Thiện Sinh" (bản kinh nguyên thủy trong bộ "Trường A Hàm") ra đời đã 26 thế kỷ, ghi lại lời Phật dạy, nêu 5 điều con cái phải kính thuận cha mẹ. Phật coi "cha mẹ là phương Đông" có thể hiểu đó là phương mặt trời mọc, có mặt trời mới có sự sống. Căn cứ trên mặt trống đồng Đông Sơn của ta có hình mặt trời tỏa sáng, cùng nhiều kết quả khảo cổ học, cho thấy tín ngưỡng thờ thần Mặt trời trong văn hóa Việt đã có từ rất sớm.

Tín ngưỡng thờ cúng ba ngày Tết của cư dân nông nghiệp luôn để lửa trong ngọn đèn vặn bấc nhỏ, về bản chất là thờ thần lửa/ thần Mặt trời với khát vọng bình yên trong trạng thái vừa đủ ánh sáng (người làm ruộng thích sự vừa phải, chừng mực)… Từ miền thượng nguồn nguyên thuỷ, dòng chảy văn hóa đưa con thuyền cổ mẫu Mặt trời chảy mãi vào tương lai. Đến mỗi bến lịch sử quan trọng, nó dừng lại đón thêm những ý nghĩa mới để biểu tượng càng tỏa sáng rực rỡ hơn. 

PGS.TS Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).