Mặt trời - ánh xạ của những huyền thoại!

Những biểu tượng quen thuộc, lâu đời, phổ quát với nhiều người, nhiều cộng đồng lắng đọng, kết tinh trong nó nhiều lớp mã văn hóa sẽ trở thành cổ mẫu (mẫu gốc). Những cổ mẫu vạm vỡ, giàu có sẽ hóa thành huyền thoại bay lượn trong bầu trời văn hóa hấp dẫn cả nhân loại ngước nhìn và khao khát khám phá.

Dù muôn vàn ý nghĩa nhưng nếu bóc dần đi các lớp mã thì bên trong huyền thoại vẫn luôn nhìn thấy, một là bóng dáng của hiện thực đời sống cổ xưa, dù rất mờ nhạt; hai là các giá trị tinh thần đã trở thành tài sản văn hóa của nhân loại. Những mẫu gốc huyền thoại thì không có đáy và cứ mãi mời gọi, hấp dẫn.

Mặt trời là một ví dụ tiêu biểu. Tự thân mặt trời đã tỏa ánh sáng - một thứ ánh sáng vật lý, đi vào huyền thoại, nó trở thành thứ ánh sáng lộng lẫy và đa sắc của văn hóa, theo quy luật tiếp biến các ánh sáng ấy cứ ánh xạ, khúc xạ vào nhau tạo ra một vùng ánh sáng rất đặc biệt lóng lánh chung quanh biểu tượng. Đặc biệt đến nỗi không một nghiên cứu nào có thể tìm ra, gọi ra được tên, chưa nói đến sự phân tích chỉ ra một cách cụ thể các mảng màu hay cường độ của màu sắc... Xin được lấy cứ liệu vùng Đông Á đồng văn đồng chủng để minh họa.

image001.jpg -0
Thần Amaterasu ra khỏi gốc dâu. Tranh cổ Nhật Bản, 1887.

Ở hầu hết các nền văn hóa cổ, thần Mặt Trời là nữ. Thần thoại Nhật Bản kể nữ thần Mặt Trời Amaterasu tóc dài, mắt sáng chói, thân hình kiều diễm tỏa ra muôn ngàn tia sáng rực rỡ. Thần thoại Trung Quốc kể Hy Hòa - thần Mặt trời là mẹ của 10 mặt trời con… Thần thoại dân tộc Thái (Việt Nam) có truyện “Nữ thần Mặt trời, Mặt trăng”, dân tộc Ê Đê (Tây Nguyên, Việt Nam) kể chàng Đăm Săn vĩ đại đi bắt nữ thần Mặt Trời làm vợ… Đó là huyền tích về thời kỳ mẫu hệ xa xưa.

Không chỉ có ở huyền thoại, nó còn lặn cả vào ngôn ngữ. Ví như ở nước Việt xưa người ta gọi cái gì to lớn, hoành tráng, bề thế là “cái”, là “cả” (sông cái tức sông mẹ, rổ cái, đũa cả…). Thế nên trở về với cổ xưa bằng con đường biểu tượng và ngôn ngữ cũng là những phương cách khả thi, không thể chính xác khoa học bằng lịch sử hay khảo cổ… nhưng thi vị hơn, vẫn cho phép những phán đoán khả tín. Ví như phân tích hình tượng Đăm Săn sẽ thấy sử thi này ra đời ở thời quá độ, như cái dấu gạch nối giữa hai thời mẫu quyền và phụ quyền. Ngay một động từ “bắt” (nữ thần Mặt trời) đã cho thấy tính chất giải thiêng, hạ bệ tư tưởng mẫu quyền (!?).

Trong nhiều ngôn ngữ gọi “trời” là ông (ông trời – nam tính) tức cách gọi đó đã ở hẳn sang thời nam quyền. Đến khi phái đàn ông đã xác lập ổn định quyền hành, tính chất phụ hệ mạnh đến mức tạo ra tính chất nam tính hóa những gì thuộc nữ. Có thể cách gọi “ông trăng” (chứ không phải “bà trăng”) của người Việt nằm trong trường hợp này (!?). Nhưng tại sao vẫn gọi “ông tơ bà nguyệt” thì là cả một câu chuyện dài về cội gốc, mong được dịp trở lại sau.

Điểm dễ thấy nhất ở các huyền thoại là thông qua biểu tượng mặt trời để biểu hiện cái khát vọng chinh phục tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ con người, chiều theo ý con người.

Hầu hết các nền văn hóa cổ đều kể có nhiều mặt trời cùng thời điểm. Thần thoại Ấn Độ kể có 12 mặt trời. Thần thoại các nước châu Mỹ, châu Phi cũng kể có nhiều mặt trời. Càng là vùng nắng nóng khô hạn thì thần thoại nơi đó càng có nhiều mặt trời, thậm chí có vùng thần thoại kể có tới 99 mặt trời… Hình tượng mặt trời đều mang tính nước đôi, hai mặt, vừa tốt vừa xấu, vừa tích cực, chính diện vừa tiêu cực, phản diện…

image003.jpg -1
Cảnh Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt trời.

Điều này cũng xuất phát từ một thực tế, nhất là ở vùng cư dân nông nghiệp nếu thiếu ánh sáng mặt trời thì cây cối khó quang hợp nên chậm phát triển, nhưng nắng quá, gay gắt gây ra hạn hán thì cây cối bị héo, con người mệt mỏi… Thế nên cái mong mỏi lớn nhất của người nông dân xưa là “mưa nắng phải thì”, điều hòa, cân bằng. Đây cũng là một đặc tính tâm lý ở họ, ưa sự chừng mực, vừa phải… Đặt trong thế đối sánh với các huyền thoại khác dễ thấy khát vọng chinh phục mặt trời mạnh mẽ nhất ở các vùng văn hóa nông nghiệp. Chàng Đăm Săn “đi bắt nữ thần Mặt Trời” chính là một biểu hiện lớn lao cái khát vọng ấy.

Nhiều huyền thoại khác có chung môtip bắn rụng mặt trời nhưng với Đăm Săn thì “đi bắt”. Dưới ánh sáng của văn học so sánh, sự đối chiếu, phân tích các hành động ấy chắc sẽ có nhiều kết quả thú vị. Trước hết là khác nhau về động cơ.

Trong văn hóa Trung Hoa có rất nhiều truyện thần thoại bắn mặt trời, như truyện “vua Nghiêu lệnh cho Hậu Nghệ bắn 10 mặt trời” nhưng để lại 1. Thần thoại Mường (Việt Nam) có khác đôi chút, có 9 mặt trời bắn rơi 8, còn để lại 1 làm sáng ngày; có 12 mặt trăng bắn rơi 11, còn để lại 1 làm sáng đêm... Thần thoại Mông thì chàng Giàng Do bắn rụng 8 mặt trời 7 mặt trăng. Ở thần thoại Thái thì chàng Quải không bắn mà trèo lên ngọn núi cao, dùng đá cát ném vào mặt trời không cho xuống thấp làm cháy lúa nương, cháy nhà sàn... Lột lớp mã “nhiều mặt trời” này sẽ cho thấy một hiện thực: nắng nhiều gây hạn hán (dẫn đến mất mùa), hỏa hoạn (nhất là cháy rừng)… Thế nên song hành với khát vọng chinh phục mặt trời là nghi thức cầu mưa đều có ở mọi nơi: “Lạy trời mưa xuống/ Lấy nước tôi uống/ Lấy ruộng tôi cày…”.

Như vậy hầu hết các hành động “bắn” mặt trời có lý do điều chỉnh tự nhiên, với hình tượng Đăm Săn, rộng rãi hơn, còn là lý do xã hội. Đó là cái khao khát mãnh liệt cắt bỏ những vòng trói của tục nối dây đã ngàn đời ràng buộc phận người… (!?).

Theo tục “nối dây” (chuê nuê) Đăm Săn cưới hai chị em Hơ Nhí, Hơ Bhí rồi trở thành một tù trưởng giàu có, hùng mạnh. Đăm Săn đánh bại các tù trưởng Mtao Grư, Mtao Mxây, giành lại vợ, đem lại sự giàu có cho cộng đồng. Đăm Săn phản kháng thần quyền, chặt cây thần và “đi bắt Nữ thần Mặt trời” về làm vợ. Chàng đã thể hiện một tư thế vượt tầm vũ trụ. Vượt qua rừng có nhiều cọp, nhiều rắn, vượt qua chông lớn, chông nhỏ, “chông lớn nhiều như lông nhím, chông nhỏ nhiều như lông chó. Con sóc mà nhảy vào thân nó cũng khó vẹn toàn”. Như vậy, đi bắt Nữ thần Mặt trời không chỉ là khát khao vượt qua mọi trở ngại tục quyền, thần quyền, cường quyền để chinh phục tự nhiên, còn là chinh phục những gì lạc hậu, xưa cũ. Như một tượng đài sử thi bất tử, hình tượng Đăm Săn sẽ mãi tỏa sáng rạng ngời không gian văn hóa Tây Nguyên!

Khát vọng là vô cùng nên hành động thực hiện khát vọng cũng rất đa dạng. Rất nhiều nền văn hóa có chung hành động “bắn rụng mặt trời”, nhưng nhiều nơi còn là “ném đá”, “ném cát”, dùng “mây che”, dùng “tay” để “bắt”,… Riêng trong huyền thoại của Nhật Bản thì không có các hành động này. Cây huyền thoại anh hùng “bắn mặt trời” của văn hóa Trung Hoa tuy cao lớn nhưng vẫn không đủ tầm vươn qua biển cả để cành lá ngả bóng sang xứ Phù Tang. Hơn nữa với đặc thù là một quốc gia đảo bốn bề mênh mang nước thì với Nhật Bản nạn hạn hán không cấp bách. Vả lại nông nghiệp không phải là “độc canh” của họ. Sống giữa biển, người Nhật thành thạo ngư nghiệp, thậm chí có thời còn coi đó là ngành nghề chính. Nhưng lý do cơ bản là từ quan niệm về cội nguồn, người Nhật Bản tự hào là “đất nước mặt trời mọc”.

Theo âm Hán, “Nhật Bản” có nghĩa là “gốc của Mặt trời” (nhật là mặt trời, bản là gốc). Thần thoại Nhật Bản coi tổ tiên của họ là nữ thần Mặt trời Amaterasu (Thái dương thần nữ). Chả anh hùng nào, dù mạnh mẽ, tài giỏi đến mấy lại dám chống lại tổ tiên nguồn cội mình nên trong văn hóa Nhật không có môtíp người anh hùng đi “bắt”, đi “kiện” (như kiểu thần thoại “Cóc kiện trời” của ta), đi “ném”… mặt trời như một vài nền văn hóa láng giềng. Nhật Bản còn một tên nữa liên quan đến mặt trời là “Phù Tang”. Phù tang là loại cây dâu rỗng ruột (tiêu tâm). Theo truyền thuyết Thần Mặt trời “ngự” trong gốc cây dâu này trước khi cưỡi xe lửa đi trên trời từ Đông sang Tây. Cái tên “Phù Tang” mộc mạc mà cũng đầy kiêu hãnh.

Có một điểm chung ở các thần thoại trên thế giới (trừ Nhật Bản) là các anh hùng có bắn rụng nhiều mặt trời nhưng vẫn để lại 1. Thì ra huyền thoại vẫn có giới hạn, dù có tài năng phi phàm đến mấy, có tưởng tượng tài giỏi mấy thì cũng không vượt qua được hiện thực là có 1 mặt trời, 1 mặt trăng. Dù có bay bổng lãng mạn đến mấy huyền thoại vẫn phải bắt rễ sâu vào hiện thực, tôn trọng hiện thực. Cổ xưa đã vậy, huyền thoại trong văn chương hiện đại có còn như vậy chăng? 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).