Lưu Hữu Phước - Nhạc sĩ của những bản hùng ca giải phóng

Trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, Lưu Hữu Phước là một cây đại thụ. Chẳng những ông đã đóng góp công sức đáng kể vào việc đặt nền móng mà còn là một động lực thúc đẩy nền âm nhạc cách mạng phát triển rực rỡ suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Sự nghiệp sáng tác của ông luôn gắn chặt với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Có thể nói Lưu Hữu Phước như một nhà viết sử bằng âm nhạc. Những ca khúc cách mạng của ông có sức cổ vũ mạnh mẽ mọi tầng lớp công chúng, luôn xốc họ dậy, hòa vào dòng thác cách mạng mà rất nhiều thế hệ người Việt Nam từng thuộc lòng: “Lên đàng”, “Xếp bút nghiên”, “Tiếng gọi thanh niên”, “Bạch Đằng giang”, “Tuổi 20”...

Những bài vừa nhắc ở trên là những ca khúc nổi tiếng được Lưu Hữu Phước sáng tác giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong kháng chiến chống thực dân Pháp (từ trước năm 1945 đến 1954). Đặc biệt, trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam , ông lại tiếp tục vai trò cánh chim đầu đàn trong giới nhạc sĩ tham gia hữu hiệu vào việc tuyên truyền, cổ vũ kháng chiến với hàng loạt ca khúc có sức lay động mãnh liệt lòng người.

Đánh dấu sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960) - một sự kiện lớn lao của cách mạng miền Nam, ông sáng tác bài “Giải phóng miền Nam ” với bút danh Huỳnh Minh Siêng. Đây là lời hiệu triệu của Tổ quốc đối với mỗi người dân miền Nam trước hiện trạng quê hương bị giày xéo bởi giặc Mỹ xâm lược. Bài hát hào sảng, hùng tráng, bề thế như những hồi kèn thống thiết thúc giục mọi người khẩn trương xốc tới giải phóng miền Nam : “Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng - Vùng lên! Xông qua vượt qua bão bùng. Thề cứu lấy nước nhà, thề hy sinh suốt đời. Cầm gươm, ôm súng xông tới...”.

Với tên Lưu Nguyễn - Long Hưng, ông còn cho ra đời 3 bài hành khúc đều rất nổi tiếng: “Giờ hành động” (1962), “Hành khúc giải phóng” (1962), “Bài ca giải phóng quân” (1963). Về thể loại hùng ca, chính ca (ca khúc chính luận hào hùng, sôi động), có thể nói Lưu Hữu Phước là nhạc sĩ hàng đầu. Ông có biệt tài trong việc tạo nên những bức tranh cổ động hoành tráng bằng âm thanh với lời lẽ hết sức hàm súc, đạt tính khái quát cao: “Bạn ơi! Gió mới 5 châu nâng bước ta đi! Bạn ơi! Chiến đấu gian nguy ta có sá chi! Trào cách mạng đang bùng cơn giông tố” (Giờ hành động-1962).

Cũng ngay sau khi giặc Mỹ phát động chiến tranh leo thang ra miền Bắc, Lưu Hữu Phước cùng một lúc sáng tác hai bài: “Sẵn sàng chiến đấu” và “Thanh niên 3 sẵn sàng” (1964). Lúc này không ai có thể dửng dưng với thời cuộc bởi kẻ thù xâm lược đã đe dọa tới cuộc sống, số phận từng người. Lớn bé, già trẻ khi ấy đã nhanh chóng thuộc lòng: Chị vững tay liềm đồng lúa. Anh vững tay búa công trường. Sẵn sàng chờ nghe tiếng Đảng gọi lên đường” (“Sẵn sàng chiến đấu”- 1964).

Đáp lời kêu gọi của Đảng, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản phát động phong trào Ba sẵn sàng. Ngay lập tức hàng triệu bạn trẻ hưởng ứng, tình nguyện nô nức nhập ngũ, lên đường ra tiền tuyến giết giặc. Lưu Hữu Phước có ngay bài “Thanh niên ba sẵn sàng” (1964) với giai điệu náo nức phơi phới, rất trẻ trung, nhanh chóng được tuổi trẻ khắp nơi đón nhận.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giải phóng Sài Gòn luôn là điều canh cánh trong lòng mỗi chiến sĩ. Đáp ứng ý nguyện cháy bỏng này, Lưu Hữu Phước đã sáng tác bài “Tiến về Sài Gòn”. Rất nhiều người - nhất là thế hệ ra đời sau năm 1975 - đều lầm tưởng nhạc sĩ sáng tác bài này dịp mùa xuân 1975. Lại có người nghĩ ông viết hồi Tổng tiến công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968. Sự thực là ông đã thai nghén lời bài hát từ rất lâu.

Liên quan đến bài hát này, có lần tôi được Lưu Hữu Phước kể cho nghe về xuất xứ và thời điểm sáng tác: “Theo hiệp nghị Giơnevơ, đến tháng 7 năm 1956 sẽ Tổng tuyển cử Thống nhất đất nước, nhưng kẻ thù khi ấy đã lật lọng nên việc không thành và vĩ tuyến 17 vẫn tiếp tục như một lưỡi dao cứa vào lòng mỗi người dân Việt Nam. Ngay khi ấy mình cũng như mọi người đã nôn nao ý nghĩ phải chiến đấu để quét sạch quân xâm lược, giành độc lập tự do cho quê hương. Vậy nên ước vọng “Tiến về Sài Gòn” bắt đầu nung nấu từ những năm tháng ấy. Rồi đến khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời (1960), sự thôi thúc trên càng cháy bỏng. Nhưng vì quá bận rộn với rất nhiều công việc nên phải tới năm 1966, mình mới hoàn thành được bài hát”.--PageBreak--

Và ông kể cho tôi nghe câu chuyện vui: “Có lần, vào một buổi chiều, đang ngồi ở Viện Âm nhạc (lúc này Lưu Hữu Phước là Viện trưởng Viện Âm nhạc - N.Đ.S.), mình nhận được cú điện thoại của một người lạ. Anh ta khẩn khoản đề nghị được đến làm quen và rước mình đến làm “trọng tài” cho anh và một người bạn. Số là họ tranh cãi nhau về bài hát “Tiến về Sài Gòn”. Anh ta cho rằng tác giả sáng tác dịp Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, còn người bạn nói mình viết hồi xuân Mậu Thân 1968. Họ nói với mình là chắc chắn sẽ có một người “thua”. Người đó sẽ phải bỏ tiền chi cho cuộc liên hoan 3 người. Mình nói rõ thời điểm ra đời bài hát nhưng anh ta vẫn muốn đến đón mình vì cần “ba mặt một nhời”. Cuộc gặp cuối buổi chiều đó thật là vui. Rốt cuộc cả hai người đều chẳng ai thắng thua vì đều nói sai sự thật.

Lưu Hữu Phước tạo nên những giai điệu hoành tráng với hình tượng âm nhạc là triệu triệu những bước chân nhưng phong cách con người ông lại dịu nhẹ, có vẻ rất phù hợp với những thủ thỉ tâm tình. Tôi nhớ mãi một chi tiết: Một lần ông từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội họp Quốc hội, tôi đã tranh thủ đến gặp để phỏng vấn (lúc này tôi đang là phóng viên âm nhạc của một tờ báo). Mặc dù rất bận nhưng ông vẫn dành cho tôi trọn một buổi tối. Lúc tôi đến là 19h. Ông vẫn không quên hỏi tôi: “Cậu hẹn giờ này thì đã kịp ăn cơm tối chưa?”. Tôi vô cùng cảm động. Khi tôi đặt vấn đề: “Em muốn phỏng vấn anh- một nhạc sĩ của những dòng thác cách mạng, mỗi ca khúc của anh đã là những lời hiệu triệu thống thiết, có sức lay động trái tim muôn người...”.

Tôi chưa kịp nói hết, ông đã nói luôn: “San đừng đặt vấn đề quá lớn và đừng quá đề cao mình như vậy. Mình có dám hiệu triệu gì đâu mà chỉ nói tiếng nói của lòng mình trước thời cuộc. Chỉ có điều với thế hệ bọn mình, cái riêng, cái tôi luôn hòa quyện với cái chung, cái ta mà thôi”. Tôi càng cảm phục người nghệ sĩ lớn vào bậc nhất nhì trong giới âm nhạc mà luôn nhỏ nhẹ, khiêm nhường từ ý nghĩ đến phong cách, lời nói, nhất với tôi, chỉ đáng học trò của ông.

Còn là tác giả của hai bài hát trữ tình thành kính, sâu lắng, rất nổi tiếng viết về Lãnh tụ Hồ Chí Minh ("Ca ngợi Hồ Chủ tịch" và "Tình Bác sáng đời ta") và một số ca khúc dành cho thiếu nhi sống mãi với thời gian (Reo vang bình minh, Thiếu nhi thế giới liên hoan...) nhưng nói đến Lưu Hữu Phước, trước hết phải nói đến những bài hùng ca bất hủ. Cùng với những trang sử vàng chói lọi rạng danh dân tộc, Lưu Hữu Phước và những bản hùng ca của ông luôn sống mãi trong tâm khảm nhiều thế hệ công chúng Việt Nam

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh có những câu chuyện mãi đến ngày hôm nay vẫn còn vọng vang trong tâm khảm thị dân đất này. Trong không gian náo nhiệt sầm uất của thành phố không ngủ lại tồn tại những điều đời thường một cách bình dị.

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Khi một dân tộc đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng dân tộc đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức dân tộc. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong xã hội, trong một cộng đồng dân tộc trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng dân tộc.

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Tôi đã rất tò mò khi được các đồng nghiệp tại Thái Nguyên giới thiệu về một ngôi làng với bản sắc dân tộc Tày, được duy trì theo phương thức “tự cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu”. Ở đó, cả một cộng đồng hàng chục gia đình “ăn cơm chung nồi, tiêu tiền chung túi” song vẫn sống đoàn kết, hạnh phúc và mãn nguyện với những gì đang có.

Giấc mơ màu lính

Giấc mơ màu lính

Ngoại đã đi thật xa. Lâu rồi. Có thể về chốn cố quận mịt mùng trong con nước Phú Ninh mênh mênh. Cũng có thể về miền mây trắng nào đó bung biêng trên bầu trời. Hoặc cũng có thể về miền xanh thẳm xa xôi, nơi đó ngoại đứng tiễn đoàn quân trùng trùng ra trận, trong đó có những đứa con của mình. Tôi hay mơ về ngoại, những giấc mơ dài.

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Hoa Viên xưa, nay thuộc xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là một làng cổ nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc của vùng đất phía Bắc Hà Tĩnh. Đây không chỉ là địa bàn cư trú sớm của cư dân Việt cổ với di chỉ khảo cổ nổi tiếng Phôi Phối - Bãi Cọi, mà còn là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lưu giữ hệ thống đình, chùa, miếu mạo cùng nhiều địa danh gắn với các cuộc chiến tranh thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn như Trạng Đội, Cồn Sâu Bắn, Trạng Vạn.

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.