Lực điền trên cánh đồng văn chương

Vũ Bình Lục đã dành cả cuộc đời kiên trì đeo đuổi sự nghiệp văn chương, kể từ khi còn học ở quê nhà. Nay ông đã vào tuổi tám mươi, nhất là những di chứng thương tích từ trong chiến tranh khiến sức khỏe của ông nay giảm sút nhiều. Trong hoàn cảnh vậy ông có thể tự cho phép mình nghỉ ngơi vui cùng bạn bè, con cháu. Nhưng, như một lực điền suốt đời cày cuốc cật lực với đồng ruộng chữ nghĩa, Vũ Bình Lục vẫn miệt mài không ngưng nghỉ.

Năm 1968, khi vào tuổi hai mươi, Vũ Bình Lục cùng 6 anh em ruột trong gia đình lên đường nhập ngũ. Ông thuộc đơn vị đặc công, trực tiếp chiến đấu tại các chiến dịch vùng Nam Trung bộ, sĩ quan tham mưu tác chiến đơn vị 409 anh hùng, được phong Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú, được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng.

Nhưng, đến năm 1972 phải ra quân vì trong một trận chiến, ông bị thương nặng, sức khỏe giảm sút, mảnh đạn đến nay vẫn găm trong đầu mà mỗi khi trở trời luôn làm ông nhức nhối. Sau một thời gian dài nằm viện, Vũ Bình Lục về dạy học rồi lều chõng thi vào Khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. Tốt nghiệp, trở lại quê nhà Thái Thụy, Thái Bình lập gia đình và dạy học. Nhưng, vợ chồng một nách 3 con nhỏ, khó khăn kinh tế nên xin chuyển vào Tây Nguyên vừa dạy học, vừa trồng trọt, chăn nuôi.

1031600354883501774.jpg -0
Nhà thơ Vũ Bình Lục.

Vũ Bình Lục đam mê và làm thơ từ khi còn là học sinh trường làng, ngày ở Đắk Lắk đã nhận được nhiều giải thưởng. Nghỉ hưu, ông về sống ở Hà Nội với mong muốn có dịp tiếp xúc cùng những tên tuổi văn chương để gặp gỡ, học hỏi.

Quen nhau lâu nhưng tôi cũng không biết gọi Vũ Bình Lục là “nhà” gì vì ban đầu ông được nhiều người biết đến khi vượt qua hơn 9.000 bài thơ của 3.000 tác giả khắp cả nước để giành giải cao nhất với bài thơ “Đám cưới một linh hồn” trong cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, năm 2003-2004. Đeo đuổi nghiệp thơ ca giúp Vũ Bình Lục có được cho mình 9 tập thơ.

Ông có những câu thơ, những bài thơ để lại dấu ấn: “Mấy trăm năm tắm gió gội mưa/ Những huyền tích trộn vào sa thạch/ Đá cũng già đi/ Nắng cũng già đi/ vũ nữ Chàm với nụ cười vẫn trẻ” (Với phù điêu Vũ nữ Chàm). Hay, khi nói về công ơn mẹ mà cũng để nói nỗi vất vả của người nông dân: “Mẹ nghèo cày cấy nuôi con/ Một đời muôn nỗi héo hon một đời/ Quanh năm đánh vật với trời/ vắt ra từ đất những lời dẻo thơm/ giọt mồ hôi lọc thành cơm/ No lòng phải biết nhớ ơn người cày” (Lời mẹ)...

Vậy nhưng, khi được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam lại không phải từ Hội đồng Thơ mà từ Hội đồng Lý luận - Phê bình. Lý do Vũ Bình Lục bên các tập thơ của mình, ông còn đi sâu vào lĩnh vực lý luận, nghiên cứu, giới thiệu, phê bình, thẩm định tác phẩm của nhiều tác giả.

Khi viết về các nhà thơ đương đại, Vũ Bình Lục thường rất tinh tế, như khi viết về Bằng Việt: Kể từ khi: “Ném câu thơ vào gió”, thơ Bằng Việt dần khác, nhiều va đập thế thời và nổi chìm triết lý, tinh hơn về chữ và nghĩa. Nhưng, điều ấy chả biết có đồng nghĩa với sự vơi đi cái trong trẻo và hồn thơ đắm đuối thuở nào”.

Nói về Trần Mạnh Hảo thật không dễ dàng nhưng Vũ Bình Lục vẫn sắc sảo: “Trần Mạnh Hảo là thi sĩ có tài. Anh tâm huyết với lịch sử, với văn chương. Hơn thế, anh còn là một nhà thơ can đảm, có cá tính. Thơ Hảo đúng là thơ thể hiện đậm nét cái chí, cái phong cốt của anh, cho dù đôi khi anh quá hào phóng, phung phí ngôn từ, tự phô ra cái gót chân A Sin của mình”.

Vũ Bình Lục viết nhiều về tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ đương đại khác... rồi được in trong bộ: “Giai phẩm và lời bình” (5 tập).

Vũ Bình Lục đã xuất bản 2 tập bút kí, tùy bút ghi lại kỉ niệm những năm tháng chiến tranh. Cùng lúc ông còn tập trung nhiều vào dịch nghĩa, dịch thơ, giải mã văn thơ cổ của các tác giả trung, cận đại nước ta như : Thiền sư Pháp Thuận, Trần Minh Tông, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão... hay Vũ Tông Phan, Chu Mạnh Trinh, Đặng Dung, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát v.v...

Vốn Nho học, Hán học giúp ông chuyên tâm và đã cho ra đời hơn 10 bộ sách được lần lượt giới thiệu trong các bộ: “Giải mã kho báu văn chương” (5 tập), “Hồng hạc cõi trời Nam” (2 tập ), “Hồn Thiền trong thơ Lý - Trần”, “Thơ thế kỉ 15 - Tinh hoa còn lại”, “Danh sĩ Ngô Thì Nhậm” dày 832 trang, “Đại thi hào Nguyễn Trãi”...

Vũ Bình Lục là chủ biên cùng nhiều giáo sư, tiến sĩ có tên tuổi đã và đang biên soạn, lần lượt cho ra mắt bộ “Tổng tập văn chương trung đại” gồm 25 tập. Qua những áng thơ văn cổ giúp ông căn cứ để cắt nghĩa, lý giải giá trị văn chương, giải mã nhiều sự kiện, nhiều nhân vật lịch sử.

Vũ Bình Lục đã nhận được Giải thưởng cao nhất về Phê bình Văn học của Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam với tác phẩm “Thánh thơ Cao Bá Quát”. Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội với tác phẩm “Giải mã thơ chữ Hán Lê Quý Đôn”.

Viện Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hiến Việt Nam đã tổ chức tọa đàm khoa học về các công trình “Giải mã văn học trung đại” và trao tặng ông Giải thưởng Đào Tấn vì những công trình nghiên cứu có giá trị cao của ông về văn chương trung đại Việt Nam.

Đặc biệt, ở phần bình giải và dịch thơ chữ Hán. Ông đã hoàn tất việc giải mã thơ chữ Hán và thơ Nôm giai đoạn Lý - Trần và tiếp đó là giai đoạn thế kỉ 15 đến nửa đầu thế kỉ 19 của hầu hết các triều đại quân chủ chuyên chế ở Việt Nam.

img-2430.jpg -1
Bìa cuốn sách “Vừa đi vừa nghĩ” của nhà văn Vũ Bình Lục.

Năm 2024, Vũ Bình Lục giới thiệu với bạn đọc cuốn nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học dày 1.056 trang khổ lớn lấy tên: “Vừa đi vừa nghĩ” chọn lọc ra 143 tiểu luận, mà đặc biệt trong đó có những ý kiến phản biện khoa học khá táo bạo về nhiều vấn đề trong văn học, văn hóa để làm rõ thêm một số sự kiện, một số nhân vật trong lịch sử Việt Nam.

Đây là một trong những bộ biên khảo, lí luận, phê bình văn học, văn hóa và lịch sử có giá trị thời kì trung đại mà Vũ Bình Lục coi đó là di sản tinh thần vô giá được cha ông để lại.Bộ sách là nguồn tư liệu, cung cấp cho bạn đọc nhiều thông tin mới, nhận thức mới, góc nhìn mới trung thực và tâm huyết.

Với công trình tập hợp những bài nghiên cứu có hệ thống, công phu này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã nhận xét: “Nhà văn Vũ Bình Lục đang nổi bật như một hiện tượng hiếm lạ ở nước ta. Ông được giới chuyên môn và bạn đọc ngưỡng mộ, đánh giá cao. Ông hoàn toàn xứng đáng là chuyên gia hàng đầu về văn học trung đại Việt Nam”...

Vũ Bình Lục đã dành cả cuộc đời kiên trì đeo đuổi sự nghiệp văn chương, kể từ khi còn học ở quê nhà. Nay ông đã vào tuổi tám mươi, nhất là những di chứng thương tích từ trong chiến tranh khiến sức khỏe của ông nay giảm sút nhiều. Trong hoàn cảnh vậy ông có thể tự cho phép mình nghỉ ngơi vui cùng bạn bè, con cháu. Nhưng, như một lực điền suốt đời cày cuốc cật lực với đồng ruộng chữ nghĩa, Vũ Bình Lục vẫn miệt mài không ngưng nghỉ. Từng có lúc ông ngất đi trong khi đang làm việc hay sinh hoạt, nhưng rồi khi tỉnh, ông lại tiếp tục.

Trong cuộc đời ông đã có cho riêng mình hàng vạn trang viết qua hơn 30 bộ sách, đầu sách bao gồm thơ ca, ghi chép, bút kí, tiểu luận, dịch thuật, nghiên cứu, tuyển chọn, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, phê bình, giải mã văn chương...

Chỉ riêng với lượng chữ nghĩa như vậy, đọc thôi đã quá mệt, vậy mà để có được nó, Vũ Bình Lục cặm cụi sưu tầm, tra cứu, ghi chép rồi mới cẩn trọng viết ra. Như nhiều người nhận xét, khen ngợi sức lao động, bộ óc thông tuệ, nhãn quan nghệ thuật tinh tế, thành quả lao động của Vũ Bình Lục có thể so sánh như một cơ quan nghiên cứu.

Trên bàn làm việc trong căn hộ chung cư bên Long Biên của Vũ Bình Lục, tôi thấy còn khá nhiều bản thảo dang dở. Vợ mất đã lâu, con cái ở xa, một thân một mình lụi hụi tự nấu nướng, sinh hoạt, lo toan cuộc sống, vậy nhưng ông vẫn lầm lũi làm việc, liên tục có bài trên các báo, trên các tạp chí. Rồi, còn những bản thảo mà ông luôn mong nó sớm ra, đó là tập sưu tầm, chọn lọc, nghiên cứu, giới thiệu 25 thi nhân tuổi Mậu Tý (1948), “Thị Mầu thơ” (Tuyển và bình thơ về Thị Mầu), “Những chiếc lá bay qua” (Tiểu luận và phê bình văn học), “Miền chứa chan” (Tập thơ)....

Trò chuyện văn chương, nhất là về thơ văn cổ với Vũ Bình Lục phải rất đồng cảm; người nóng nảy, sốt ruột hẳn khó ngồi cùng.

Huy Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).