Lục bát Khúc Hồng Thiện: Từ "Chênh chao tích chèo" đến "Cùng nhau nhân từ"

Nhà thơ Khúc Hồng Thiện đến với thi ca bằng cây cầu lục bát, định danh bước đầu bằng thơ lục bát, ấy là cái nợ, cái duyên và có thể cũng là cái phận thơ, nghiệp thơ của anh trong kiếp văn chương này.

1. Nhận diện

Quãng mươi mười lăm năm về trước, những trang lục bát chênh chao của Khúc Hồng Thiện đã đều đặn xuất hiện trên báo chí lúc bấy giờ, đọc thơ ấy, gặp người ấy thấy câu chữ vốn đã cổ tích lại như già dặn quá, nền nã quá, nhất là khi biết tác giả mới là chàng trai hai mươi bảy tuổi. Này nhé:

Cong cong dấu hỏi mái đình/ Bấy lâu vẫn xoáy vào thinh không nghèo/ Trẻ làng đôi mắt trong veo/ Nghịch lênh đênh để bay vèo phù vân.

Lục bát Khúc Hồng Thiện: Từ
Nhà thơ, nhà báo Khúc Hồng Thiện.

Bao đời qua, cái chất thế sự triết luận đã ám vào lục bát như một sự mặc định, bởi vậy không ngạc nhiên khi thấy nó lừng lững phủ bóng trong những trang thơ mùa đầu của Thiện:

Đôi lời nhắn với ca dao/ Lắm khi những tiếng ngọt ngào có gai/ Tò vò giết nhện lần hai/ Còn dân gian vẫn dông dài thì sao.

Những câu lục bát có vẻ như già trước tuổi ấy có thể chưa phát lộ hết cái thiên tư thơ của Thiện, nhưng nó đã mang đến cho người đọc đôi nét định hình đầu tiên về một cây bút thơ có duyên với lục bát giữa miền thơ.

2. Từ “Chênh chao tích chèo”

Tôi và Thiện có chung một niềm đam mê thơ lục bát, ngoảnh lại, đã chạm mười lăm năm khi buổi đầu tiên chúng tôi gặp nhau tại phòng thu của Đài Tiếng nói Việt Nam để trò chuyện cùng nhà báo Lê Tuyết Mai về thơ lục bát trên VOV2 độ giữa năm 2009. Đọc thơ Khúc Hồng Thiện ngày ấy, thấy bóng dáng tiền nhân trong những câu thơ của anh, nhưng trên cung đường lục bát quen thuộc của ông cha đã có những ngập ngừng khang khác:

Làm thơ ở cõi dương gian/ Đánh rơi tuổi trẻ vào tan nát chiều.

Đọc tập "Chênh chao tích chèo" của Thiện xuất bản từ năm 2010, thấy trong những vuông thơ sáu tám nhuần nhuyễn và nghiêm ngắn có nét kế thừa truyền thống, có cái hàm ngôn mới mẻ, chiêm nghiệm đi trước cả tuổi tác của Thiện lúc ấy:

Học chữ Nôm, đọc lại Kiều/ Mới hay dâu bể bấy nhiêu còn thường/ Nhớ cha ông lại càng thương/ Xung quanh nét chữ trăm đường binh đao (Nhận mặt cha ông).

Trên “con đò” lục bát, Khúc Hồng Thiện đã vô tình (hay được trao?) mà chở phải một "món hàng khủng" khi thanh xuân còn đương độ, ấy là những nỗi niềm đầy vơi của nhân tình thế thái. Món hàng này là đồ gia bảo của thơ thế hệ trước chuyển cho thế hệ sau, vậy nên mặc nhiên, những trang thơ tình của Thiện lúc ấy cũng bị cái đầy vơi kia chi phối:

Em ngồi bên biển và không/ Ngoảnh đầu lại thấy mênh mông là bờ/…/… Riêng tôi với biển mịt mù/ Vẫn lênh đênh vẫn phù du kiếp người. Thiện đến với thi ca bằng cách viết ấy, và tự già dặn thơ mình trước tuổi bằng góc nhìn của tiền nhân quét qua những nỗi niềm cuộc sống hôm nay. Bởi vậy, nếu ai đã đọc lục bát của Thiện từ "Chênh chao tích chèo" đổ về trước, thì có thể thấp thoáng nhớ về anh với góc nhìn đa chiều qua sau những vạt ca dao, cổ tích, kiểu như:

Nô biệt tích, Màu bặt tin/ Trăm năm gửi lại oan khiên với đời/ Mầu, Nô góc bể chân trời/ Chiếu chèo phó mặc mồ côi một thằng…/…/ Làng mình vào hội hay chưa/ Để cho tôi được lên chùa nhận con! (Chênh chao tích chèo).

3. Đến "Cùng nhau nhân từ"

Sau những tháng năm đằng đẵng cùng cơm áo nơi đô hội, cái nghiệp chữ, nghề thơ đặt Thiện vào lòng một tờ báo giữa Thủ đô, (Nhà thơ, nhà báo Khúc Hồng Thiện hiện đang công tác tại Báo Nhân dân). Tám năm, sau những chênh chao vô tư đầu đời, thơ Thiện được sinh ra trong sự va đập khắc nghiệt của cuộc sống và nghiệp thơ, đặc biệt với thơ lục bát, thì sự va đập càng trở nên quyết liệt.

Lục bát thời nay không còn chỗ cho những cái tự sự, mặt phẳng của tiền nhân, nhưng là một thể thơ truyền thống, vốn đã rất quen thuộc với người Việt, nên ngay ở thời điểm hiện tại vẫn chưa có sự đồng thuận cao trong quá trình "sáng tạo - tiếp nhận" giữa thơ lục bát và đối tượng của nó. Bởi vậy, hình như ý thức được điều đó, nên tám năm qua, chàng thơ họ Khúc đã âm thầm khai phá và mở rộng cứ địa cho thơ của mình trong nhiều thể loại. Ấy thế nhưng đọc "Cùng nhau nhân từ" mới xuất bản của Thiện, vẫn thấy cái được hơn cả lại là những cung sáu tám quen thuộc.

Này đây, trong trẻo mở ra giữa khoảng trời thơ và đời của Thiện bây giờ là:

Bước chân nhỏ chạy lon ton/ Muốn bung ra khỏi khoảnh tròn chung cư (À ơi, câu hát).

Tám năm đi qua Thiện mới xuất bản tập thứ 2, nhưng khoảng thời gian ấy là sự chững lại cần thiết để hoàn thiện và lớn lên, để định hình một tư duy thơ vì đất nước, quê hương và cuộc sống (chứ không vì sự huyễn hoặc của chữ nghĩa):

Mịt mùng bao cuộc bể dâu/ Người xưa dong cánh buồm nâu quan hà/ mưa nguồn chớp bể đảo xa/ nghe trong gió lộng vẫn là tiếng quê (Lục bát Đảo Chìm).

Ừ, chả cần phải cố gắng dị biệt để thơ mình vào lâu đài nghệ thuật ảo nào đó, trong khi non sông này, cuộc sống này, kiếp người này luôn ăm ắp muôn vạn nỗi niềm cần thơ chia sẻ và tương tác:

Bao nước mắt nhỏ đất này/ khóc cho máu lửa tháng ngày chưa xa/ Tuổi xuân ơi tuổi xuân à/ mộ chung với cỏ xanh và… ước mơ (Bâng khuâng Thành Cổ).

Đọc lục bát của Thiện bây giờ, thấy câu chữ đã nhập về đúng với độ tuổi, cái già dặn gường gượng ngày xưa đã tuột dần sau những năm tháng va đập trên nẻo đường đời, đường thơ:

"Vẫn đây chồng ngất ngư say/ vẫn kia vợ đợi tháng ngày… còn thương/ vẫn Hạnh Phúc một con đường/ vẫn huyền thoại đá và sương cuối trời" (Mưa Đồng Văn). Câu chữ đã tìm về đúng tuổi, nên câu thơ tự nhiên và thanh thoát, nhiều câu thơ của Thiện bây giờ mang những trăn trở, lo toan nặng hơn, đầy hơn nhưng không to tát, ồn ào: "Đời con rồi sẽ thế nào/ Khi sông ngưng chảy khi ao lấp bồi/ Bao nhiêu rừng trọc hóa đồi/ Phù sa và những lở bồi cũng không/ Những ai ăn mặn cánh đồng/ Có nghe sầm sập ngàn sông xối về" (Dòng sông nào). Như đã nói ở phần trước, trên con đò lục bát Khúc Hồng Thiện, cái chất thế sự vốn đã nặng duyên, nhưng ơn giời, sau tám năm bên những ghềnh thơ, thác chữ, thì nó thị hiện như này: "Mưa rửa đền, mưa tái tê/ làng lên phố, phố thành quê nhập nhòa/ nước non giờ ngớt can qua/ giật mình, toàn chuyện trong nhà mới lo" (Mưa rửa đền).

Đọc suốt cả "Chênh chao tích chèo", tìm mỏi mắt vẫn chưa giáp mặt một câu thơ tình ấn tượng thật sự nào, nhưng đến "Cùng nhau nhân từ", thì chỉ cần xem Khúc Hồng Thiện gieo những bảng lảng yêu cũng đã nảy mầm vào mùa chữ: "Thuyền trôi lỡ nhịp chiêm bao/ Áo em còn trắng phía nào mây bay/ Anh về theo lối chưa ngày/ Gió còn Đà Nẵng bên này cùng em" (Sông Hàn).

Lục bát Khúc Hồng Thiện: Từ
Hai tác phẩm thơ của Khúc Hồng Thiện.

Lục bát của Khúc Hồng Thiện hôm nay, nhiều chỗ bất ngờ, nhiều chỗ sáng tạo đáng quý, nhưng vẫn còn nhiều chỗ khiến ta thấy tiếc, tiếc bởi sự đầy đặn quá, như ở mấy câu này:

"Biết rằng em sắp lấy chồng/ Hẹn nhau lần cuối, chẳng mong chuyện nhiều…/…/ Thế mà em/ Thế mà tôi/ Dửng dưng/ Toàn nói những lời dửng dưng/ Giả vờ quên/ Báo tin mừng/ Lối đi xưa/ Hai đứa từng bước lên/ Tưởng rằng đến chỉ mình em/ Thêm một ai để trái tim nghẹn lời" (Hẹn nhau lần cuối).

Đây là một bài thơ được làm theo kiểu ngắt dòng (điều này ít thấy trong thơ lục bát của Thiện), cách ngắt dòng ấy, tạo ra được sự ngập ngừng, gượng ép, nhịp thơ ấy, góp phần thị hiện được tâm lý các nhân vật trong buổi gặp cuối cùng với người yêu cũ. Nhưng giá như bài thơ chỉ dừng lại ở câu lục: "Tưởng rằng đến một mình em", và đổi thành "Giá như đến một mình em"… thì gợi hơn, thơ hơn, nhưng Thiện lại còn dắt vào thơ mình "Thêm một ai để trái tim nghẹn lời" thì có vẻ như hơi hoang phí câu chữ, lại vừa làm nhạt ý tứ bởi cái mòn sáo trong câu bát cuối cùng kia…

Nhà thơ Khúc Hồng Thiện đến với thi ca bằng cây cầu lục bát, định danh bước đầu bằng thơ lục bát, ấy là cái nợ, cái duyên và có thể cũng là cái phận thơ, nghiệp thơ của anh trong kiếp văn chương này. Từ những bài thơ lục bát đầu tiên của tập "Chênh chao tích chèo" đến bài khép lại của tập "Cùng nhau nhân từ" là cả một quãng đường thơ thăm thẳm. Quãng đường quá độ ấy hun hút dài bởi chính sự chuyển đổi về tư tưởng và ngôn ngữ thơ của Thiện. Trên cung đường văn chương ấy thấy câu chữ miền sáu tám đang chín, đang đằm dần lên theo từng lớp tuổi, thấy những sáng tạo, tìm tòi tích cực của một nhà thơ trẻ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam hôm nay đang lặng lẽ dấn thân cùng thơ lục bát.

Nguyễn Thế Kiên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).