Lửa – biểu tượng và mẫu gốc!

Ở bất kỳ một ngôn ngữ nào thì “lửa” luôn là một trong những biểu tượng văn hoá cơ bản mang nhiều hàm nghĩa nhất. Vì sao vậy? Vì “lửa” gắn bó mật thiết với đời sống con người, ở đâu có con người là ở đó có lửa.

Ngay trong tiếng Việt, “lửa” là một tín hiệu thẩm mỹ rất đa dạng về nghĩa: lửa tình yêu, lửa tâm hồn, lửa nhiệt tình, lửa chiến tranh, lửa căm hờn, lửa tàn ác...Vì có nhiều nghĩa nên hầu hết các ngôn ngữ đều khuôn “lửa” vào hai nhóm: tái sinh và huỷ diệt. Căn nguyên của nó là những câu chuyện có từ rất xưa...

Gắn với nghĩa tái sinh là câu chuyện của nền văn hoá cổ Hy La vĩ đại có Prômêtê thần thánh. Truyền thuyết kể rằng vì thương loài người cực khổ sống trong bóng tối và đói rét nên Thần Prômêtê lấy trộm lửa từ trên thiên đình cho loài người. Hôm ấy, nhân các thần mải đi chơi xa, Prômêtê bèn châm lửa thiêng giấu kín trong ruột cây sậy rồi chạy xuống hạ giới. Từ đó mà nhân loại có lửa, sống văn minh hơn hẳn trước đó. Để ghi công cho Thần, loài người gọi đó là “ngọn lửa Prômêtê”, thậm chí chỉ việc gì vĩ đại mang tính khởi đầu, con người liền gọi là “Tinh thần Prômêtê”, rồi “Thời đại Prômêtê”...

Hành động của Prômêtê làm Dớt - vua của các vị thần nổi giận. Dớt bèn ra lệnh trừng phạt Prômêtê bằng cách xích chàng vào dãy núi đá Côcadơ hoang vu và xa xôi để ban ngày vị thần ân nhân của loài người bị mặt trời thiêu đốt và đến đêm chịu giá lạnh cắt thịt da.

Chưa hết, Dớt còn sai đại bàng khổng lồ moi và ăn gan của Prômêtê. Thật kỳ diệu, gan của người anh hùng ban ngày bị đại bàng ăn thì đêm lại tái sinh. Những cực hình khủng khiếp không khuất phục được ý chí của Prômêtê vĩ đại. Cuối cũng Dớt chịu thua!

Prômêtê bị xiềng trên núi đá.
Prômêtê bị xiềng trên núi đá.

Cho đến nay nhân loại vẫn chưa lý giải nổi thần thoại Hy Lạp xa xưa cách nay bảy, tám nghìn năm đã dựa vào căn cứ nào để tưởng tượng ra hình tượng gan của Prômêtê tái sinh. Vì y học hiện đại ngày nay chứng minh chỉ duy nhất một bộ phận trong hệ thống cơ thể người là gan mới có thể tái sinh. Ngẫu nhiên chăng? Rất có thể.

Nhưng trường hợp Kim Tự Tháp Ai Cập sừng sững gần năm ngàn năm nay vẫn chưa có thuyết nào giải thích một cách thuyết phục về nguồn gốc và phương thức xây dựng. Vì đơn giản chỉ có trình độ tin học phát triển như hiện nay mới có thể lập trình được một cách chính xác về kết cấu hết sức khoa học của hệ thống kiến trúc này, có như vậy Kỳ quan cổ đại này mới còn sót lại đến với chúng ta?

Được phủ một màn sương huyền thoại nên hình tượng nghệ thuật vẫn luôn mê hoặc và mời gọi sự khám phá. Như tình yêu vậy, hiểu biết kỹ quá thì tỉnh táo dễ dẫn đến khô khan, xa với lĩnh vực tình cảm đặc biệt vốn gắn liền với sự mơ mộng, bay bổng. Huyền thoại Prômêtê hấp dẫn loài người đến mức trở thành “cổ mẫu” để hậu sinh khai thác, tạo ra những tác phẩm kinh điển tiếp sau.

Là "Prômêtê bị xiềng", một trong bảy vở bi kịch bằng thơ hay nhất của nhà viết kịch Hy Lạp cổ Esin, ra đời khoảng năm 469 TCN. Là "Prômêtê giải phóng", viết năm 1819, kịch thơ bốn hồi của nhà thơ Anh Seli...

Đó là những tác phẩm kế thừa, tiếp thu và phát huy tinh thần tích cực của “cổ mẫu”. Nhưng cũng có cách tiếp thu theo tinh thần phản biện, phủ nhận hoặc hoài nghi mà tiêu biểu Luyxiêng, nhà văn Hy Lạp cổ (khoảng 125-180) với phong cách nổi bật là hoài nghi tất cả, hoài nghi triệt để, kể cả tôn giáo nên tên các tác phẩm của ông thường có hai chữ “Đối thoại” ở đầu (Đối thoại của những người chết; Đối thoại của các vị thần...).

Các Mác có sức đọc rất rộng mới có nhận xét rất tinh này: “Những vị thần Hy Lạp đã bị tử thương-dưới hình thức bi kịch trong vở Prômêtê bị xiềng của Esin, lại phải chết một lần nữa-dưới hình thức hài kịch trong cuốn Đối thoại của Luyxiêng”.

Với văn học Nga hiện đại có hình ảnh toả sáng của trái tim Đankô dẫn đoàn người thoát khỏi sự tối tăm của rừng già cũng ít nhiều kế thừa “ngọn lửa toả sáng” từ mẫu gốc. Hình tượng lãng mạn kỳ diệu này của M. Gorki đã làm say mê bao thế hệ thanh niên Nga và cả ở Việt Nam. Chắc chắn nó vẫn nằm trong hành trang tuổi trẻ của những thế hệ tiếp sau.

Ở Việt Nam, lấy cảm hứng từ ngọn lửa Prômêtê nhưng có phần xa với cổ mẫu là tập thơ "Lửa thiêng" (1940) của Huy Cận. Người viết nhiều về hình tượng lửa là Tố Hữu: “Tôi muốn viết những vần thơ tươi xanh/ Vẫn nóng viết những dòng thơ lửa cháy...”.

Prômêtê đã hy sinh vì nhân loại và nhân loại thể hiện lòng biết ơn Thần bằng cách giữ gìn ngọn lửa như một tài sản quý giá nhất. Từ đó hình tượng lửa đi vào mọi ngôn ngữ trở thành biểu tượng văn hoá với những ý nghĩa tốt đẹp: sự tái sinh, sức sống mãnh liệt, sự kỳ diệu...

Nhưng trong loài người có kẻ phản bội. Hắn tên là Herostratos. Hắn đã biến ngọn lửa thần thánh thành ngọn lửa của quỷ dữ. Vì muốn trở nên nổi tiếng hắn đã phóng lửa đốt đền thờ thần Artemis - nữ thần săn bắn, ở Ephesus (nay là miền Tây Thổ Nhĩ Kỳ). Đây là ngôi đền đẹp nhất trong số khoảng 30 ngôi đền của người Hy Lạp, được xây bằng đá cẩm thạch, một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Ngọn lửa đã cướp đi vĩnh viễn một tài sản vô giá của nhân loại. Chỉ vì tính ích kỷ và ngông cuồng mà Herostratos bị cả loài người lên án, phỉ nhổ.

Thế là từ đó ngọn lửa cũng đi vào từ điển các ngôn ngữ với nghĩa tiêu cực: sự huỷ diệt, sức tàn phá, sự chết chóc... Như cụ Nguyễn Trãi tố cáo sự tàn bạo mất hết tính người của quân xâm lược Minh: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn...”.

Ngọn lửa quý giá, ngọn lửa thần thánh thiêng liêng nhưng trong tay kẻ xấu thì trở thành phương tiện gây ra thảm họa kinh hoàng. Người Việt ta đã sâu sắc tổng kết: “Thuỷ, hoả, đạo, tặc” coi “lửa” là một trong bốn thảm họa: thuỷ (mưa bão, lũ lụt); hoả (lửa cháy); đạo (trộm cắp); tặc (giặc giã). Bài học trong truyền thuyết cổ xưa là chỉ có kẻ xấu (như Herostratos) mới cố tình tạo ra lửa cháy huỷ diệt, về sau nhân loại hiểu rộng rãi và phổ quát hơn là trong đời sống có khi người tốt cũng vô tình gây ra thảm họa vì một sơ ý không ngờ.

Vì thần Prômêtê - người đầu tiên mang lửa xuống trần gian, giấu lửa vào ruột một cây sậy, nên từ đó về sau lửa luôn nấp kín, trong mạch điện tường nhà, trong động cơ xe, trong chiếc bình gas, trong chiếc bật lửa nhỏ bé, trong một gốc cây khô, một đống lá... Thậm chí từ trên trời... Và sẵn sàng bùng lên bất cứ khi nào. Nếu con người không để ý đề phòng!

Lửa thần thánh, tái sinh và có cả lửa quỷ dữ, huỷ diệt! Con cháu của Prômêtê luôn hướng về sự sống nên cảnh giác cao độ. Nhưng vì người ngày một đông, đôi khi lại quên mất chuyện khởi nguyên của lửa từ Thần Prômêtê nên thỉnh thoảng vẫn có chuyện đáng tiếc xảy ra...! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).