(Ấn tượng về “Người công giáo cộng sản”, tiểu thuyết lịch sử của Trần Việt Trung, Nhà xuất bản Văn học, 2020)

Lòng yêu nước không độc quyền

Đề tài truyền thống (lịch sử, cách mạng, chiến tranh) đang phục hưng trên văn đàn những năm gần đây. Đặc biệt đáng quan tâm khi nhà văn đang cố gắng kéo lịch sử lại gần hơn với người đọc để nhằm tìm những câu trả lời quan trọng cho hiện tại.

Thực tiễn sáng tác tiểu thuyết cho thấy nhận định trên đây của chúng tôi là có căn cứ. Sự xuất hiện các tiểu thuyết “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” (2014) của Trần Mai Hạnh; “Mình và họ” (2014) của Nguyễn Bình Phương; “Gió Thượng Phùng” (2018) của Võ Bá Cường; “Đường về Thăng Long” (2019) của Nguyễn Thế Quang; “Gió bụi đầy trời” (2020) của Thiên Sơn; “Hừng Đông” (2020) của Nguyễn Thế Kỷ; “Người công giáo cộng sản” (2020) của Trần Việt Trung… là một thực tế đáng kỳ vọng. 

Đó là những tác phẩm phản ánh, ca ngợi chủ nghĩa yêu nước cao cả của các thế hệ người Việt Nam trải qua lửa đỏ và nước lạnh của thời đại bão tố cách mạng ở thế kỷ trước. 

Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, Hồ Chủ tịch đã đặc biệt quan tâm đến mặt trận đoàn kết dân tộc, Người kêu gọi: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!”. Đoàn kết là sức mạnh hàng đầu dẫn đến thắng lợi cuối cùng của dân tộc đánh bại những kẻ thù hùng mạnh, tàn bạo và nham hiểm nhất thế kỷ XX. 

Các nhân vật lịch sử thời đại cách mạng: Lãnh tụ Hồ Chí Minh, các học trò xuất sắc của Người như Võ Nguyên Giáp, các bậc tiền bối như Phan Đăng Lưu đã bước vào tiểu thuyết lịch sử. Nay một trong những con người thuộc “thế hệ kim cương” trở thành nhân vật văn học - Đồng chí Trần Tử Bình (1907-1967) trong tiểu thuyết “Người công giáo cộng sản”. 

Ở đây cần nói rõ, tác giả chính là con trai của đồng chí Trần Tử Bình, vậy điều ấy có đảm bảo tính khách quan của sự viết? Thiết nghĩ, chúng ta đang tiếp nhận một tác phẩm văn học (về lịch sử) cho nên tác giả nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thật, ngoài ra là trí tưởng tượng, tự do hư cấu (khi miêu tả nội tâm nhân vật). Đọc tác phẩm, chúng tôi nhận thấy tác giả đã giải quyết tốt mối quan hệ mật thiết này của nhiệm vụ nghệ thuật kép khi viết.

Bìa tiểu thuyết “Người công giáo cộng sản” của Trần Việt Trung.
Bìa tiểu thuyết “Người công giáo cộng sản” của Trần Việt Trung.

Đồng chí Trần Tử Bình là nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết. Người đọc như được sống lại một thời kỳ bão táp cách mạng, như được kề vai sát cánh cùng chiến hào với những người chiến sỹ cộng sản của một thế hệ tràn đầy tinh thần “dĩ công vi thượng”. Tiểu thuyết được viết theo thuật chương hồi (gồm 16 phần đánh số từ I đến XVI). 

Nhân vật Trần Tử Bình được miêu tả từ lúc sinh ra, lớn lên, tham gia hoạt động cách mạng, trưởng thành theo trình tự thời gian. Khi viết, tác giả chú trọng đặt nhân vật chính trong một không gian - thời gian có tính chất địa - chính trị và địa - văn hóa. 

Quê hương nơi đồng chí Trần Tử Bình sinh ra, lớn lên là vùng công giáo thuộc phủ Lý Nhân xưa (sau đổi tên thành tỉnh Hà Nam, dưới thời vua Thành Thái). Đây là vùng nông thôn chiêm trũng, nghèo khó. Nhưng kỳ lạ thay, như một nghịch lý, chính những nơi nghèo khó nhất thường sản sinh ra nhiều bậc hào kiệt. 

Gia đình đồng chí Trần Tử Bình theo đạo trong một làng (có tên Đồng Chuối) công giáo toàn tòng. Chúng ta biết, nơi sinh ra một con người có ảnh hưởng lớn đến quá trình trưởng thành sau này (về nhãn quan, về nhân cách, về lối sống, cao hơn là văn hóa ứng xử). Người công giáo có đức tin mạnh mẽ về lẽ phải, sự công bằng và sống thanh sạch theo giáo lý. 

Tất cả các nhân tố tốt đẹp của một không gian văn hóa như thế hun đúc nên những phẩm chất cần thiết để cho cậu bé Phạm Văn Phu (sau này khi tham gia hoạt động cách mạng có bí danh là Trần Tử Bình) hình thành và phát triển một nhân cách toàn vẹn.

Tác giả đã chú ý đến những “bước ngoặt” trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Tử Bình. Bắt đầu từ phần III (bước ngoặt), phần IV (chuyển mình), phần V (vượt ngục), phần VI (cánh chim vượt giông tố), phần VII (cuộc đại vượt ngục lịch sử), phần IX (khởi nghĩa Hưng Yên), phần X (trước và sau ngày Lễ Độc Lập), phần XIV (vị đại sứ và lễ Trình quốc thư trong đêm), phần XVI (quyết tâm của người cộng sản)... 

Tiểu thuyết thường viết về cả quá trình của một đời người, với những “điểm nhấn của số phận”, nơi khúc xạ lịch sử trong những thăng trầm của nó. Nhưng nhà văn cần dừng lại ở những điểm độc sáng. Có thể nói, đây là một tiểu thuyết về “lịch và nhân chứng” của một thời kỳ đáng nhớ trong tiến trình đấu tranh cách mạng Việt Nam thời hiện đại. 

Nương theo tinh thần này, tác giả không chỉ chú trọng tái hiện các sự kiện lịch sử quan trọng mà còn quan tâm đến các nhân chứng lịch sử, vì chỉ có thông qua những con người cụ thể thì lịch sử mới được phục dựng một cách sinh động, đầy đủ, soi sáng đến từng chi tiết. 

Nếu Trần Tử Bình là nhân vật trung tâm thì có một “từ trường” lớn do nhân vật tạo nên, trong đó xuất hiện một cách trung thực các nhân vật khác như Ngô Gia Tự, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Bùi Công Trừng, Trần Huy Liệu, Trần Quang Huy, Nguyễn Bình, Lê Thiết Hùng... 

Trần Tử Bình là một nhân vật - người anh hùng trong ý nghĩa đích thực của từ này là vì được đặt trong (và giữa) một tập thể anh hùng, vì không ai có thể một mình làm nên sự nghiệp. 

Tư tưởng về vai trò của Nhân dân trong tiểu thuyết lịch sử của Trần Việt Trung rất sáng rõ. Đề cao vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại nên tư tưởng “lòng yêu nước không độc quyền” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm.

Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến cách viết tiểu thuyết lịch sử “Người công giáo cộng sản”. Sinh thời, Bác Hồ thường quan tâm đến ba phương diện viết (viết cho ai, viết cái gì, viết như thế nào). Người ta thường nói “đằng sau một người đàn ông thành công có bóng hình một người phụ nữ”. Điều ấy giản dị như chân lý. 

Quê hương, gia đình, người thân và các mối quan hệ dòng tộc, đồng bào, đồng chí... đã tạo nên chất keo kết dính nhân vật điển hình với hoàn cảnh điển hình. Trong sợi dây bền chặt của nhân vật chính Trần Tử Bình với hoàn cảnh, thiết nghĩ, người vợ là một điểm sáng rỡ. 

Bà Nguyễn Thị Hưng là người vợ, người đồng chí gắn bó keo sơn với Trần Tử Bình, như một cặp “song kiếm hợp bích”. Ai bảo phụ nữ chỉ có biết tề gia nội trợ, chỉ cần công dung ngôn hạnh như một lẽ thường tình tạo hóa ban phước? 

Bà Nguyễn Thị Hưng đã tham gia hoạt động cách mạng từ sớm ở Hưng Yên. Sau năm 1957, bà công tác tại Bộ Ngoại thương trong vị trí Chánh Thanh tra bộ. Bà đã sinh hạ và nuôi nấng chu toàn tám người con (sáu trai, hai gái, Trần Việt Trung là con út trong gia đình). 

Bà Nguyễn Thị Hưng “một tay chèo lái” (như tiêu đề mục đầu của phần XVI), sau ngày đồng chí Trần Tử Bình ra đi vĩnh viễn. Bà đã mất ngủ sáu tháng liền với bao nỗi tiếc thương không nguôi ngoai người bạn đời, vừa lo toan gánh vác gia đình trong thời buổi khó khăn khi chiến tranh đang vào thời kỳ ác liệt, kinh tế eo hẹp ngặt nghèo. 

Cái khó, cái khổ về kế sinh nhai đã đành, nhưng đáng nói hơn là sự trống trải của ngôi nhà thiếu vắng đàn ông như trụ cột chính: “Ngôi nhà càng trở nên vắng vẻ u tịch. Mỗi đêm mất ngủ, thời gian cứ dài lê thê”. 

Từ năm 1969, bà bị trọng bệnh, được chữa trị ở nước ngoài. Số phận đã mỉm cười với người quả phụ kiên cường này. Khi Trần Thành Công (một trong số sáu con trai của vợ chồng bà) nhập ngũ, bà đã động viên con trai mình vì: “Bà hiểu từng đứa con mình đứt ruột đẻ ra, chúng có lòng tự trọng, không muốn ai động đến mình”. 

Sau hòa bình (1975), đời sống của đất nước khó khăn trong bối cảnh cấm vận và hậu quả chiến tranh nặng nề, bà Nguyễn Thị Hưng đã phải làm kinh tế (nuôi lợn), con cái thì mỗi người một cách bươn chải (bán giải khát, cà phê)... 

Bà Nguyễn Thị Hưng là một tấm gương kiên cường vượt khó, vừa xây tổ ấm vừa phụng sự công việc chung. Năm 1991, bà được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Hai. Bà mất ngày 25-8-1993. Thiết nghĩ, nếu thiếu đi những trang viết sinh động, xúc động về bà Nguyễn Thị Hưng, tiểu tuyết sẽ bị khuyết đi một mảng lớn.

Ý tưởng về nhan đề bài viết của chúng tôi - Lòng yêu nước không độc quyền - vụt sáng khi viết dòng cuối bài phê bình tác phẩm Người công giáo cộng sản của Trần Việt Trung.

Hà Nội, tháng 1-2021

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).