"Lòng tôi có đôi lần khép cửa..."

Ngày cuối tuần, không đi đâu, chỉ muốn ở nhà đọc và viết. Cửa chính thì đã đóng rồi để tự khóa chân mình, nhưng còn cửa sổ thì không thể không mở ra. Chợt nghĩ, có những sự vật như cánh cửa kia, ngày nào mình cũng trông thấy nó, chạm vào nó mà sao chưa nghĩ nhiều về nó.

Một vật tưởng như quá đỗi bình thường nhưng ngôi nhà nào cũng cần, gia đình nào cũng không thể thiếu. Không chỉ thế, cửa dường như còn quan trọng hơn chúng ta tưởng khi nó được dùng để gọi tên cho vô vàn các sự vật hiện tượng khác trong cuộc sống hàng ngày, từ những thứ gần gũi cho tới những thứ thật vĩ mô.

Cửa sổ là đôi mắt của ngôi nhà.
Cửa sổ là đôi mắt của ngôi nhà.

1. Có lẽ không ai còn nghi ngờ gì về mức độ gần gũi cũng như tầm quan trọng của cánh cửa trong đời sống sinh hoạt của con người, dù ở bất kỳ cộng đồng hay quốc gia, dân tộc nào. Nhưng mức độ thân thiết của cửa trong đời sống người Việt còn dẫn tới việc người Việt dùng cửa để gọi tên cho nhiều bộ phận khác nhau trên cơ thể người, đây chính là sự khác biệt với nhiều dân tộc khác: “cửa miệng” (chỉ mồm miệng nói chúng), “cửa sổ tâm hồn” (chỉ đôi mắt)….

2. Cửa đi vào nhiều câu thành ngữ tục ngữ, nhiều cách diễn đạt ví von trong đời sống hàng ngày của người Việt. Câu thành ngữ quen thuộc “nhà cao cửa rộng”, ngụ ý chỉ những gia đình giàu có, sống phong lưu, có tài sản hơn người. 

Trong chuyện hôn nhân, dựng vợ gả chồng, người Việt có câu “môn đăng hộ đối”, chỉ việc hai bên gia đình thông gia phải có sự tương xứng về đẳng cấp, trình độ, vị trí xã hội đối với nhau. 

Khi chuyện dựng vợ gả chồng tiến hành xong xuôi, đến lúc người phụ nữ có bầu thì người Việt lại có cách ví von: “chửa cửa mả”, ý nói việc mang bầu và sinh nở là vô cùng vất vả, mệt nhọc và nguy hiểm đối với người phụ nữ, nếu sơ sảy hoặc kém may mắn có thể dẫn tới mất mạng. 

Khi gặp phải những khó khăn, áp lực trong đời sống và rồi vượt qua được bằng một xác suất rất thấp, người Việt lại có cách diễn đạt: “lách qua khe cửa hẹp”. Việc các thí sinh, sĩ tử thành công trong những kỳ thi quan trọng, người Việt dùng hình ảnh “vượt vũ môn”… “Cửa” cũng đi vào những danh ngôn thế giới nổi tiếng, chẳng hạn: “Đừng phá cửa! Hãy mở nó, nhẹ nhàng, bằng chìa khóa!”.

“Cửa” cùng các biến thể đã đi vào nhiều câu đối nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam. Bắt đầu từ những đối đáp trong kho tàng dân gian, chúng ta có giai thoại cô dâu trong đêm động phòng dùng điển tích Lưu thần nhập Thiên Thai để “làm khó” cho chú rể. Vế ra của nàng như sau: “Hang Thiên Thai then khóa động đào, đóng chặt lại để chàng Lưu quên lối cũ”. Chú rể không phải tay vừa lập tức đối lại: “Cửa Hàm Cốc lỏng khuôn tạo hóa, mở toang ra cho ông Bái dẫn quân vào”. 

Đến thời Trần, Mạc Đĩnh Chi (1280 - 1346) khi sang xứ Tàu đã bị quan trấn ải Pha Lũy ra một vế đối hiểm hóc với bốn chữ “quan” (cửa): “Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan” (Qua cửa muộn, cửa quan đóng, mời khách qua cửa quan). Những tưởng sứ thần nước Nam chịu thua bởi vế ra lắt léo này, nhưng không, Mạc Đĩnh Chi đã dùng chính tình thế khó khăn ấy và ứng biến bằng một vế đối cực kỳ thông minh: “Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối” (Ra vế đối thì dễ, đối lại mới khó, mời tiên sinh đối trước). 

Sau Mạc Đĩnh Chi nhiều thế kỷ, Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) có câu đối cực kỳ hài hước, trào lộng trong bối cảnh tống cựu nghinh tân, tiễn năm cũ mừng năm mới: “Đêm Ba Mươi co cẳng đạp thằng Bần ra cửa/ Sáng Mùng Một giơ tay bồng ông Phúc vào nhà”. Sang thời kỳ hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có một vế thách đối thú vị liên quan đến “cửa”, trong hoàn cảnh đang trồng cây khoai môn trước nhà để tăng gia sản xuất. Khi đoàn cán bộ đến thăm, Bác đọc vế thách đối: “Trồng môn trước cửa” (môn cũng là cửa). Một đồng chí đối lại: “Bắt ốc sau nhà” (ốc cũng là nhà).

3. Trong thi ca, không chỉ chữ “cửa” mà rất nhiều bộ phận của cửa như “bậu cửa”, “bậc cửa”, “ngưỡng cửa”… cũng như sự cụ thể hóa các loại cửa đều được những người nghệ sĩ ngôn từ sử dụng một cách sống động, đầy gợi cảm, thể hiện được những ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc. Nhưng tựu trung lại có hai trường nghĩa lớn nhất khi miêu tả cánh cửa gắn với thế giới tâm trạng con người. 

Thứ nhất là sự đợi chờ, mong ngóng, trông đợi một bóng hình. Đó có thể là hình ảnh người mẹ chờ con như trong Chinh phụ ngâm: “Lòng mẫu thân buồn khi tựa cửa/ Miệng hài nhi tới bữa mớm cơm”. Đó có thể là chàng trai đang mong ngóng người con gái mà mình yêu thương như trong thơ Lưu Quang Vũ: “Kẻ lẻ loi còn được phút bình yên/ Anh như đứng trên than đi trên lửa/ Không còn đủ sức sướng vui hay buồn khổ/ Chỉ còn là bậc cửa đợi chờ em” (Em vắng). Và đó còn là người con gái lẻ loi đang khao khát luyến ái, khao khát yêu đương, đợi chờ tình yêu trong một niềm vô vọng: “Em đứng bên bậu cửa thay đồ lót/ Chôn vùi da thịt vào gối chăn” (Đêm mưa - Trương Xuân Thiên). 

Ý nghĩa thứ hai gắn với cánh cửa là sự đoạn tuyệt, chia ly, ngăn cách, giã từ. Trịnh Công Sơn đã từng viết những lời thế này trong ca khúc nổi tiếng Đêm thấy ta là thác đổ: “Lòng tôi có đôi lần khép cửa/ Rồi bên vết thương tôi quỳ/ Vì em đã mang lời khấn nhỏ/ Bỏ tôi đứng bên đời kia”. 

Còn Xuân Quỳnh trong một thi phẩm có lẽ là cuối cùng của sự nghiệp sáng tác – “Thời gian trắng” (tháng 6-1988) – cũng qua hình ảnh cánh cửa mà gửi gắm bao buồn thương xót xa, bao lưu luyến của một dự cảm chia lìa: “Anh thuộc về những người ngoài cánh cửa/ Của con đường, trang viết, câu thơ (…) Dù cùng một thời gian, cùng một không gian/ Ngoài cánh cửa với em là quá khứ/ Còn hiện tại của em là nỗi nhớ/ Thời gian ơi sao không đổi sắc màu”. 

Cảm giác cách ngăn gợi ra từ cánh cửa còn đươc miêu tả trần trụi hơn trong những câu thơ của Ngục trung nhật ký: “Anh đứng trong cửa sắt/ Em đứng ngoài cửa sắt/ Gần nhau trong tấc gang/ Mà biển trời cách mặt” (Vợ người bạn tù đến thăm chồng – Hồ Chí Minh). 

Cả hai trường nghĩa trên gắn với cửa đều có điểm chung là sự trống vắng, hao khuyết, dở dang, ngược lại với cảm giác đoàn tụ sum họp. Vì thế, cảm giác chung của những câu thơ vừa dẫn đều gợi buồn. Thế nên, cũng phải dẫn thêm ít câu khi cửa gắn với niềm vui, với sự đón nhận và ấm áp: “Trải qua bao trắc trở long đong/ Em không thể tin trong tro còn có lửa/ Thế mà chiều nay, khi anh dịu dàng mỉm cười nơi ngưỡng cửa/ Em nghe trong lòng thanh thản bão giông qua” (Giá có thể - Tiểu Hàn). 

Hành động “gõ cửa” cũng có thể xem là một biểu tượng tích cực, gắn với sự giúp đỡ hoặc những khát khao giao cảm, khát khao đồng điệu: “Gõ cửa nhà ai xin ngủ trọ/ Giật mình tôi thấy giọng Nhi thưa” (Hoa và rượu – Nguyễn Bính), “Gõ cửa tình yêu anh nhé. Phố quen theo chân em về. Thầm vờ duyên cớ khiến xui anh gặp em. Con tim ngập ngừng muốn nói” (Gõ cửa tình yêu – Nhạc và lời: Nguyễn Đức Trung).

Sẽ là không thể nói hết những câu thơ, lời ca đẹp nhất của người Việt về cánh cửa bởi khuôn khổ bé nhỏ của một bài viết. Nhưng tôi tin rằng có những cánh cửa sẽ còn neo đọng lại mãi trong tâm hồn những người yêu thơ Việt, nhạc Việt. Ở đó, có những bâng khuâng e ấp như trong câu thơ của Phan Thị Thanh Nhàn: “Khung cửa sổ hai nhà cuối phố/ Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ”. Và có những luyến lưu của một thời xa vắng như trong những câu thơ của thi sĩ chân quê: “Hôm nay xuống bến xuôi đò/ Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau/ Ai đi đó ai về đâu/ Cánh buồm nâu… cánh buồm nâu… cánh buồm…” (Nguyễn Bính).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).