Lời ru - "Hát nuôi phần hồn"!

Theo nghiên cứu gần đây của Trường Đại học Ohio (Mỹ) thì thai nhi tuy nằm trong nước ối và được bao bọc bởi nhiều lớp cơ, màng nhưng đã bắt đầu nghe được tiếng động từ tháng thứ 4 (dù đến tháng thứ 6 tai nghe mới hoàn thành). Nếu có sự kích thích của âm thanh 5 giây sẽ ảnh hưởng tích cực đến nhịp tim thai nhi dài 1 tiếng đồng hồ. Trong đó giọng của mẹ quan trọng nhất nhờ cường độ vừa đủ truyền theo cơ thể đi thẳng vào tử cung.

Lại có những thí nghiệm khác. Nếu trẻ sơ sinh thiếu tháng được nghe bài “Lullaby” (một bài hát ru nổi tiếng) 5 phút, 6 lần mỗi ngày sẽ lớn nhanh hơn những trẻ cùng hoàn cảnh. Với trẻ bắt đầu có nhận thức nếu được kích thích bằng hát ru 10 phút thì phản xạ vận động tốt hơn nhiều so với trẻ không được nghe. Kết quả các thí nghiệm đều khẳng định hát ru là những kích thích rất có lợi không chỉ cho sự phát triển ngôn ngữ, tâm lý mà còn cả phát triển thể chất nữa. Thì ra câu thơ của Nguyễn Duy “Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn” (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa) không chỉ hay về biểu cảm nghệ thuật mà còn đúng về khoa học.

image001.jpg -0
“À ơi, cánh cò bay lả bay la”.

Lại nữa, một nghiên cứu khác cho thấy hát ru bằng những nguyên âm không thành câu tức hát không rõ lời sẽ dễ làm trẻ ngủ hơn là hát thành bài có câu cú rõ ràng. Lý do là não chưa phát triển nên trẻ tiếp nhận qua giai điệu chứ không phải bằng ca từ. Trẻ nhạy cảm với thứ âm thanh có nhịp điệu đều đặn, nhẹ nhàng gần với nhịp điệu từ trái tim người mẹ mà nó được nghe từ trong bụng mẹ. Thật đúng với triết lý sâu sắc của người Việt: “Mẹ sao con vậy”, “Giỏ nhà ai quai nhà nấy”… Vai trò của người mẹ với đứa con quả là vô cùng. Con có “trả ơn” mẹ “bằng giời bằng biển” cũng không sánh được với công lao bậc sinh thành. “Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con” còn là vậy!

Thế nên hầu như ngôn ngữ nào cũng có hát ru miễn là có trẻ em và người mẹ. Hầu như cũng có chung đặc điểm giai điệu du dương nhẹ nhàng sâu lắng. Về đặc trưng này, giới âm nhạc ghi nhận ngôn ngữ tiếng Tamil (miền Nam Ấn Độ) có lời hát ru tên là"Thaalattu" hay lời hát "Oyayi" ở Philippines,… rất quyến rũ. Phổ biến, bình dân như vậy nên hát ru còn lấn sang các thể loại âm nhạc (hiện tượng ru hóa) khác. Dòng nhạc pop trứ danh cũng có những bài hát ru nổi tiếng thế giới như “Good night” của nhóm The Beatles hay “Lullaby” của nhóm Billy Joel…

Theo nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc lời ru đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành nhân cách trẻ. Trong lời ru có lời răn dạy, cao hơn cả là sâu sắc, ấm áp một tình thương, trách nhiệm của cha mẹ đã nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm đứa con từ khi cất tiếng chào đời. Một văn bản lời ru tồn tại trong nó đa phong cách, vừa là nghệ thuật, vừa là tâm lý, là giáo dục, là lịch sử… Đó là một văn bản đa hướng (hướng tới nhiều đích), đa thoại (nhiều đối thoại) và liên văn hóa (thẩm thấu các tinh hoa văn hóa nhiều vùng miền qua sự tiếp biến)… Xin được phần nào chứng minh những điều này.

Hầu như là người Việt thì ai cũng thuộc bài hát “Ru con” vì lý do là các bà mẹ từ đồng bằng Bắc bộ đến đồng bằng Nam bộ đều thường dùng để hát ru con. Các khảo sát xã hội học cho thấy văn bản gốc bắt nguồn từ miền Bắc rồi đi vào miền Nam như một lẽ tự nhiên vì cùng một cơ thể Tổ quốc, cùng một tâm hồn…

Giai điệu lời hát mang tính kinh điển cho lối gieo vần bằng/ trắc để tạo lời ru trầm bổng: “Gió mùa thu… mẹ ru mà con ngủ…/ Năm canh chày… năm canh chày… thức đủ vừa năm…/ Hỡi chàng chàng ơi… hỡi người người ơi…/ Em nhớ tới chàng… em nhớ tới chàng…/ Hãy nín nín đi con/ Hãy ngủ ngủ đi con/ Con hời mà con hỡi… con hỡi con hời…/ Con hỡi con hời…/ Hỡi con…”.

Câu đầu có hai thanh trắc (gió, ngủ) ở vị trí đầu và cuối câu, giữa câu toàn thanh bằng (mùa thu... ru mà con) đột ngột nổi lên một thanh trắc (mẹ). Ở câu hai giữa câu toàn thanh bằng (Năm canh chày… năm canh chày… em… vừa năm…) nổi lên hai thanh trắc (nhớ tới) tạo ra một âm hưởng cao thấp đều đặn, du dương đưa trẻ vào giấc ngủ. Con ngủ rồi thì người mẹ “đối thoại” với “đối tượng” khác: “Hỡi chàng chàng ơi… hỡi người người ơi…/ Em nhớ tới chàng… em nhớ tới chàng…”. “Chàng” ở đây là người chồng, “Người” ở đây cũng là chồng. Gọi thế thì mới diễn tả được một hình ảnh người chồng vừa gần gũi (chàng) vừa xa lạ (người), vừa yêu thương vừa có gì đấy hờn dỗi… Bài này có tên “Ru con” nhưng gọi đúng với nội dung phải là “Ru chồng” (!?).

Cùng cấu trúc giai điệu, một bài ru con khác của dân ca Nam bộ cho thấy bóng dáng của một lịch sử chiến tranh giữ nước: “Chí làm trai… say mê mà giữ nước…/ Em nỡ dạ nào… em nỡ dạ nào… trách mối tình ai…/ Hỡi chàng chàng ơi… hỡi người người ơi…/ Em nhớ tới chàng… em nhớ tới chàng…/ Hãy nín nín đi con…”. Đối tượng hướng tới trong bài nổi lên trước hết là “chàng”, là “người”; sau là đứa con thơ rồi với cả chính người ru, tức người vợ. Điệp khúc “em nỡ dạ nào” không chỉ khẳng định với chồng, còn là lời nhắn nhủ với chính mình. Chỉ qua lời ru mà có thể hình dung ra những hình tượng người vợ, người mẹ thương con thương chồng, vị tha, vì nghĩa lớn mà chịu hy sinh…

image003.jpg -0

Qua phép đối sánh dễ thấy một đặc điểm nội dung hát ru phương Tây thường hướng về đối tượng ru là đứa trẻ, tức một chiều nhưng lời hát ru Việt Nam thường đa chiều, tức hướng về nhiều đối tượng. Có một hướng rất đáng chú ý là hướng vào trong đáy lòng người ru, tức hướng nội. Cũng dễ cắt nghĩa, vì sống trong khuôn phép giáo lý phong kiến phương Đông người phụ nữ bị ràng buộc, bị o ép, bị tước quyền nói. Mà ai cũng có nhu cầu đối thoại, nên với họ ngả đường đối thoại hầu như duy nhất là hát ru, mượn lời ru để bộc bạch nỗi lòng.

Thế nên lời hát ru Việt giàu tình cảm nhưng đượm buồn, nhiều khi đến não nùng và đậm chất triết lý: “Ầu ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh…/ Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi…/ Ầu ơ… Khó đi mẹ dắt con đi…/ Con đi trường học, mẹ đi trường đời”. Trời đất, các con đường vào trường học và trường đời đều khó cả, tất nhiên vào “trường học” thì đầy tương lai. Nhưng bao nhiêu khó khăn mẹ giành hết để “dắt con đi”. Vì con, mẹ chấp nhận vượt “cầu” dù cầu có “đóng đinh”, có “lắc lẻo gập ghềnh” để đi “trường đời”… Người mẹ, người vợ ấy cao thượng đến quên mình nhưng có gì đấy cam phận, ngậm ngùi: “Ầu ơ… Gió đưa bụi chuối sau hè…/ Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ…/ Ầu ơ…/ Con thơ tay ẵm tay bồng…/ Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông”...

Ở Việt Nam, dân tộc nào cũng có hát ru, tiêu biểu như Hát ru (người Kinh), Ú lục (Thái, Tày), Um con (Bana), Khổng mí nhủa (Mông)... Nhiều dân tộc có chung đặc điểm không chỉ là hát ru cho trẻ thơ mà còn hát ru nhau, nhất là với những nam thanh nữ tú đang yêu, mượn lời ru làm cánh để trao gửi tình yêu. Lời ru lúc này tươi vui lạ thường: “Cánh cò bay lả bay la/ Bay từ, từ cửa phủ bay ra, ra cánh đồng/ Tình tính tang, là tang tính tình/ Duyên tình rằng, ấy duyên tình ơi/ Rằng có nhớ, nhớ hay chăng?/ Rằng có biết biết hay chăng?”. Cánh cò trắng chấp chới ngoài không gian đồng ruộng. Cánh cò tình yêu chấp chới bay trong bầu trời văn hóa, bay trong tâm hồn tuổi thơ rồi đậu vào những trái tim đang yêu…

Có nguồn gốc xã hội gắn liền với lao động, tập quán, đời sống sinh hoạt gia đình, hát ru thường mang tính chất ngụ ngôn, lời ca phong phú, mang nhiều hình ảnh, tâm trạng nỗi niềm. Với đặc tính ấy nên lời ru gắn liền với ca dao trữ tình. Cấu trúc lời ru thường có sự liên kết câu ru và tiếng đưa hơi. Chịu sự quy định của thổ âm mà hát ru miền Bắc tiếng đưa hơi là “à ơi”, miền Nam là “ầu ơ”. Ngoài ra sử dụng những tiếng đệm lót để tạo giai điệu (í a, ư ừ, hỡi hời…) cũng là cách tăng cường khả năng biểu cảm cho lời ru. Để làm phong phú kho tàng hát ru rất cần đến sự sáng tạo của những nhạc sĩ tài năng. Không chỉ riêng các bà mẹ và các em thơ mà tất cả chúng ta chờ đón thêm những bài tuyệt vời như bài “Mẹ yêu con” của Nguyễn Văn Tý.

Không chỉ hay về giai điệu, đẹp về ca từ, bài hát vẽ lên một hình tượng thiên thần: “Miệng con chúm chím xinh xinh/ Như đài hoa đang hé trên cành/ Khát nắng mới và sương lành/ Lá thắm rung cánh tay ôm ấp lấy hòa bình/ A á ru hời ơi hời ru”. Bài hát mở ra cả một chân trời của hy vọng và tình thương: “Tương lai con đẹp lắm/ Mẹ hát muôn lần/ A á ru hời ơ hời ru…”.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).