Lời nói vần - nét văn hóa đặc sắc của người Êđê ở Đắk Lắk

Trong kho tàng văn hóa dân gian, lời nói vần của người Êđê ở tỉnh Đắk Lắk là một thể loại văn học đầy chất trữ tình. Nó được tạo ra bởi tri thức dân gian, là lời ăn tiếng nói kết tinh nhiều trí tuệ đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, được đúc kết và truyền đạt từ đời này sang đời khác.

Người Êđê ở tỉnh Đắk Lắk có đời sống vật chất và tinh thần rất đặc sắc. Chính những giá trị văn hóa truyền thống của người Êđê đã tạo nên những nét đặc trưng văn hóa của vùng đất nơi này. Những nét văn hóa phong phú, đa dạng của người Êđê đã thật sự đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam những tri thức văn hóa lịch sử quý giá.

Trong kho tàng văn hóa dân gian Êđê, lời nói vần (klei duê) là một bộ phận ngôn từ xuất hiện phổ biến, được phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng. Lời nói vần được tạo ra bởi tri thức dân gian, góp phần làm phóng phú, đa dạng di sản văn hóa dân gian và bản thân ngôn ngữ, tiếng nói của dân tộc Êđê.

a1 (2).jpg -0
Nghi lễ là một trong những không gian diễn xướng lời nói vần của người Êđê.

Trong tiếng Êđê, lời nói vần thường được dùng với từ ghép klei duê. Từ klei có nghĩa là lời nói, còn duê có nghĩa là nối kết. Klei duê là lời nói có sự nối kết với nhau bằng các âm tiết cùng vần hoặc bằng từ có các âm tiết tương đồng. Những ai có tài duê được cộng đồng ca ngợi: “Người có môi thần cho/ Có môi thần tạo/ Tai dính chặt với đầu/ Là người có tài hát kưưt, mmui, ayray”.

Lời nói vần của người Êđê ở tỉnh Đắk Lắk có mặt trong tất cả thể loại văn học dân gian như: truyện cổ tích (klei đưm), lời khấn thần (riu yang), câu đố (klei mđăo), hát khóc (chok hia), luật tục (klei bhiăn kđi), hát đố (klei mđăo), hát giao duyên (ei rei), sử thi (khan)… Nội dung của nó đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, được đúc kết và truyền dạy từ đời này sang đời khác.

Trong đời sống của đồng bào Êđê, lời nói vần luôn chiếm một vị trí đặc biệt, nó giúp ích, thiết thực cho việc trao đổi thông tin, giao tiếp, giúp cho người nghe có thể tiếp thu nhanh chóng và nhớ lâu. Bởi, lời nói vần là những câu chữ ngắn dài được nối kết với nhau một cách hợp lý bằng vần điệu khá nhuần nhuyễn và sinh động.

Nội dung lời nói vần thường được dùng để diễn đạt một cách cô đọng và ngắn gọn những kinh nghiệm đã đúc kết được trong quá trình phát triển và trường tồn của người Êđê. Chẳng hạn về kinh nghiệm thời tiết, sản xuất là những câu thông báo các hiện tượng thiên nhiên và phổ biến kinh nghiệm sản xuất cho cộng đồng. Đồng bào thường mượn hình ảnh bông hoa, âm thanh tiếng suối, tiếng chim để điểm nhịp đi của thời gian, của mùa màng trên nương rẫy: “Cây truk trổ bông là vào mùa khô/ Con ve yut kêu là mùa phát rẫy/ Trái hngăm chín là mùa dọn rẫy/ Trái da trâu chín là mùa gieo hạt/ Bầy vẹt kêu là mùa tuốt lúa”.

Đối với sinh hoạt cộng đồng, ý thức cộng đồng của người Êđê trong cuộc sống đã được lời nói vần phản ánh nhiều mặt, từ lời khuyên bảo con cháu đến việc nhắc nhở nguồn gốc dòng tộc, bổn phận mỗi thành viên trong cộng đồng… Ví như: “Qua chỗ người ta cắm chông thì trúng chông/ Qua lời cha mẹ thì bị phạt” hay “Trồng cây phải hỏi chú bác/ Đừng như con hươu trong rừng/ Với cặp sừng dậm chân một mình”… Những lời khuyên dù ở hình thức nào cũng nhằm củng cố mối quan hệ cộng đồng. Có thể thấy, giá trị nổi bật của lời nói vần về sinh hoạt cộng đồng là góp phần bảo vệ lợi ích của cộng đồng, buôn làng.

Đặc biệt, phần lớn lời nói vần của người Êđê là những lời tâm tình của trai gái yêu nhau. Chất liệu để tạo ra lời nói vần về tình yêu nam nữ bao giờ cũng gắn liền với khung cảnh thiên nhiên quen thuộc, với cuộc sống thường ngày của họ như quả dưa, chiếc gùi, chiếc vòng, bông hoa nghệ, dòng suối chảy, con chim cu đất... Chẳng hạn mượn hình ảnh bông hành, bông nghệ, chim bhi, chim gông tượng trưng cho tình yêu xa cách và mong ước gần nhau của trai gái: “Gửi bông hành, bông nghệ nhớ không thôi/ Em mong anh đã lâu/ Như em mong chim bhi/ Em đợi anh đã nhiều/ Như em đợi chim gông”. Và, tình yêu của trai gái Êđê rất mộc mạc, thủy chung: “Một trái dưa cũng chẳng quên nhau/ Một cái bắp cũng dành cho nhau”.

Có thể thấy, trong cuộc sống của người Êđê, lĩnh vực nào cần có kinh nghiệm thì ở đó có lời nói vần. Đó không chỉ là những kinh nghiệm quan sát được mà cả những kinh nghiệm được nhìn nhận, suy ngẫm từ các giác quan bên trong của con người, hết sức tinh tế và nhạy cảm. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, lời nói vần của người Êđê phản ánh khá đầy đủ những đức tính của người dân lao động như cần cù, kiên trì, tinh thần lạc quan, óc thẩm mỹ, tình yêu thương, ý thức đề cao về cái đẹp tâm hồn, về danh dự, lòng chung thủy… Chính lời nói vần đã góp phần làm phong phú, sinh động, tô đậm bản sắc văn hóa Êđê.

a2 (1).jpg -0
Lúc lên nương rẫy, người Êđê cũng có thể sử dụng lời nói vần.

Lời nói vần của người Êđê là lời ăn tiếng nói kết tinh nhiều trí tuệ được đúc kết và truyền đạt từ đời này sang đời khác. Các nghệ nhân, các già làng luôn là người thuộc nhiều lời nói vần và nó trở thành vốn liếng cần thiết trong hành trang của họ để sống, giáo dục con cháu. Người thuộc nhiều lời nói vần có thể vận dụng nó ở những hoàn cảnh phù hợp, từng tình huống cụ thể như khi nói chuyện tâm tình, lúc ngâm ngợi cuộc vui buổi uống rượu, xướng ca trong đêm lễ hội ấm áp tình cộng đồng hoặc khi bàn bạc công việc đại sự…

Là người có uy tín, am hiểu về lời nói vần, ông Y Wang Hwing (ngụ buôn Triă, xã Ea Tul, huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk) thường dùng lời nói vần để nhắc nhở, khuyên răn bà con trong buôn làng những điều hay, lẽ phải. Ông bảo, lời nói vần có thể là kinh nghiệm đúc kết về thiên nhiên như việc xem thời tiết, cây cỏ, chim muông, qua đó để biết thời vụ gieo trồng, gặt hái, đoán ngày tốt, ngày xấu; về xã hội và con người như cách ứng xử trong gia đình, xã hội, phong tục, tập quán. Ở buôn làng Êđê, vào những ngày sau thu hoạch mùa màng, những ngày nhàn rỗi, đứng từ xa thì nghe tiếng chiêng trống, đến gần thì nghe lời nói vần ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, buôn làng, tình cảm, hành động tốt đẹp của con người trong cuộc sống.

Ông Y Chen Niê - Phó Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa (thuộc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk), cho biết: “Kể sử thi hay các sinh hoạt văn hóa cộng đồng khác phải có không gian diễn xướng, còn lời nói vần không bắt buộc không gian diễn xướng. Lời nói vần có thể sử dụng trong lúc nghỉ ngơi sau giờ làm nương rẫy, khi đi lấy nước, bên ché rượu cần khi anh em, bạn bè gặp gỡ tâm tình hay người già răn dạy con cháu… Người diễn xướng tùy vào tâm trạng, câu chuyện, hoàn cảnh mà biến tấu, sáng tạo thành những vần, điệu để người nghe dễ hiểu, dễ nhớ. Vì thế, loại hình văn hóa dân gian này chính là một nét đẹp văn hóa trong cộng đồng người Êđê”.

Lời nói vần của người Êđê ở tỉnh Đắk Lắk có một “trữ lượng” khá phong phú. Lời nói vần là tiếng lòng, giọng nói của cha ông để lại, là báu vật ngàn đời của người Êđê. Chính vì những giá trị về nhiều mặt, ngày 4/8/2022, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du Lịch Nguyễn Văn Hùng đã ban hành Quyết định số 1840/QĐ-BVHTTDL công nhận lời nói vần của người Êđê (huyện Cư Mgar) là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ngoài lời nói vần, đợt này, lễ mừng thọ của người Mnông (huyện Lắk) cũng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Như vậy, cùng với Khan (sử thi Êđê), hiện tại tỉnh Đắk Lắk đã có 3 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch đang khẩn trương phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan tham mưu xây dựng kế hoạch cụ thể để bảo tồn và phát huy giá trị các di sản này.

Phan Nhuận Phin

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).