Lịch sử văn học qua một công trình nghiên cứu đáng tham khảo

Năm 2025 vừa qua, hầu hết hội thảo khoa học và công trình nghiên cứu đều tập trung tổng kết văn học giai đoạn nửa thế kỷ thống nhất đất nước thì Phó giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Bá Đĩnh lại cùng các đồng nghiệp chọn một hướng đóng góp khác, khi thực hiện cuốn sách “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985” cung cấp những góc nhìn thú vị.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Bá Đĩnh, nguyên Trưởng phòng Lý luận văn học của Viện Văn học, hiện là ủy viên Hội đồng Lý luận phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhắc đến ông, những ai quan tâm đến nghiên cứu văn học, không thể không nhớ đến hai tác phẩm “Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học” và “Ký hiệu học văn chương - Biểu tượng và văn bản nghệ thuật”.

Dù đề cập chuyên môn sâu, nhưng mỗi tác phẩm của Trịnh Bá Đĩnh đều có sức thuyết phục độc giả. Bởi lẽ, ông không chỉ có khả năng tiêu hóa nhuần nhuyễn những kiến thức mà bản thân tiếp nhận từ thế giới, mà ông còn có phương pháp diễn đạt mạch lạc và lôi cuốn.

Cũng bằng phong cách ấy, Trịnh Bá Đĩnh đã đứng ra chủ biên công trình “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985”, với sự cộng tác của các đồng nghiệp Trần Hoài Anh, Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Đăng Điệp, Lê Thị Dương, Hà Thanh Vân, Lê Quốc Hiếu.

chan dung trinh ba dinh.jpg -0
Phó giáo sư – Tiến sĩ Trịnh Bá Đĩnh.

“Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985” do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành, dày hơn 500 trang, giúp công chúng nhận diện các thế hệ và kiểu nhà văn từ khuynh hướng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đến khuynh hướng hiện sinh chủ nghĩa trong văn học miền Nam trong giai đoạn này.

Giá trị của công trình nghiên cứu “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985” được thể hiện ở hai điểm đáng lưu ý. Thứ nhất, lần đầu tiên phạm trù người đọc được dùng khảo sát lịch sử văn học, người đọc như một chủ thể kiến tạo văn học. Thứ hai, văn học đô thị miền Nam 1954-1975 được viết gộp trong một nền văn học Việt Nam thống nhất, để nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và khách quan.

Với tư cách chủ biên “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985”, Phó giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Bá Đĩnh bày tỏ: “Cho dù có một số quan điểm ngờ vực về “quy luật lịch sử”, “sự khách quan lịch sử”, đồng thời hứng thú viết lịch sử xã hội nói chung và lịch sử văn học nói riêng, ở Việt Nam chúng ta thời gian gần đây có phần giảm sút, tuy nhiên không ai có thể phủ nhận rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình sinh thành, thịnh đạt và suy vong, nghĩa là sự vật nào cũng có “lịch sử" của nó.

Văn học cũng như vậy. Hứng thú viết lịch sử sẽ không bao giờ mất đi khi còn có loài người, bởi vì con người là “sinh vật có kí ức”, chép sử là cách bảo lưu kí ức quan trọng nhất. Hơn nữa, lịch sử luôn cần được diễn giải mới để đi gần hơn đến sự thật, để rút kinh nghiệm, làm “bài học” phục vụ cho “ngày hôm nay”. Hiểu biết lịch sử như vậy là rất quan trọng”.

Cuốn sách được Phó giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Bá Đĩnh và các đồng nghiệp dành nhiều tâm huyết chăm chút, đã mô tả khéo léo và hấp dẫn lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985, một khoảng thời gian bốn mươi năm văn học.

Về sự phân kỳ này, nhóm biên soạn cắt nghĩa tóm tắt rằng: Năm 1945 kết thúc thế chiến hai, cũng là năm ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bắt đầu một thời kỳ mới của lịch sử Việt Nam, thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự chủ dân tộc, xây dựng xã hội mới theo mô hình xã hội chủ nghĩa, lúc đầu là trên một nửa đất nước, sau đó là trên cả nước non sông liền một dải. Việc lựa chọn một mô hình phát triển xã hội mới, theo một ý hệ mới dẫn đến hệ quả là sự ra đời, phát triển những thiết chế văn hóa, văn học mới về căn bản.

Năm 1985, theo một cách khá ước lệ, có thể coi là thời điểm kết thúc một thời kỳ lịch sử xã hội, văn hóa và văn học. Sau đó, từ năm 1986, là thời kì đất nước “đổi mới toàn diện mọi mặt xã hội” và tham gia vào “sân chơi toàn cầu”. Đối với văn học là thời kỳ hậu - hiện thực xã hội chủ nghĩa (post-realisocialism).

Tất nhiên, lịch sử là một dòng chảy liên tục, việc phân ra các thời kỳ như thế nọ hoặc như thế kia cũng chỉ là một cách lựa chọn chủ quan mô hình diễn giải lịch sử. Khi chọn bất kỳ “mốc” nào thì người ta cũng có thể dễ dàng chỉ ra những khía cạnh gián đoạn và những khía cạnh liên tục của một quá trình.

Thế nhưng, ở chiều suy tư nào, nói về các sự kiện thì vẫn có sự kiện có ý nghĩa lớn chi phối nhiều mặt thực tế, có sự kiện nhỏ chỉ tác động hạn hẹp. Lịch sử xã hội và lịch sử văn học cũng đều như vậy. Sự phân chia thời kỳ văn học bắt buộc phải căn cứ vào những mốc có ý nghĩa chi phối lớn đến nhiều mặt của đời sống văn học.

lich su van hoc.jpg -1
Bìa công trình nghiên cứu “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985”.

Văn học Việt Nam thời kì 1945-1985 được tồn tại trong hoàn cảnh chiến tranh và hòa bình xen kẽ nhau. Mười năm đầu trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp. Mười năm tiếp theo là hòa bình tạm thời. Từ năm 1965 đến năm 1975 là chiến tranh toàn diện. Thập kỷ tiếp theo là giải quyết những vấn đề hậu chiến. Trong giai đoạn chiến tranh, dĩ nhiên văn học nghệ thuật không thể phát triển bình thường, mà bị chi phối mạnh bởi quyền lực chính trị, tuyên truyền tư tưởng hệ. Để thấu hiểu và đánh giá văn học nhất thiết phải đặt nó trong bối cảnh chính trị, xã hội của thời đại mà nhìn nhận.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Bá Đĩnh nhấn mạnh: “Một thực tế nữa cũng cần được lưu ý, đó là từ năm 1954 đến năm 1975 có hai khu vực văn học trong một nền văn học dân tộc. Bên cạnh văn học xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, còn có một nền văn học nhiều phần có tính thị trường ở miền Nam được tồn tại trong một giai đoạn tương đối ngắn, lại không biệt lập mà luôn đối thoại với chính trị, văn học miền Bắc.

Văn học miền Nam là một bộ phận của nền văn học dân tộc thống nhất. Một sự chia rẽ trong thống nhất, cũng như trước đó với văn học vùng Pháp tạm chiếm và văn học cách mạng. Hơn nữa, sau năm 1954, một số lượng đáng kể các “nhà văn Hà Nội” cùng hàng triệu độc giả miền Bắc di cư, đã góp phần quan trọng làm nên diện mạo văn học miền Nam. Theo một nghĩa tương đối, sự thống nhất văn học đi trước cả sự thống nhất lãnh thổ và duy nhất chính thể.

Vì những lý do đó, khi biên soạn “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985”, chúng tôi không tách một chương riêng cho “văn học miền Nam 1955-1975” như những cuốn sách khác, mà viết gộp trong một nền văn học thống nhất với những bộ phận mang các đặc điểm riêng”.

Khi có điều kiện tiếp xúc với công trình “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985”, độc giả dễ dàng chia sẻ với những nhà nghiên cứu về thái độ thẩm mỹ: Lịch sử văn học là một thực tế rất sống động và luôn vận động. Chép sử văn học là chọn một mô hình để diễn giải và mô tả thực tế ấy.

Có người coi lịch sử văn học là sự thay thế của các thể loại, có người coi như sự thay thế của các thế hệ nhà văn, có người coi như sự tiếp nối của các “phong cách lớn”… từ đó mà lịch sử văn học được nhìn nhận, mô tả theo các cách khác nhau.

Công trình “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985” nghiêng về quan điểm “chủ toàn”, tức là nhìn văn học như một hệ thống gồm nhiều yếu tố. Các yếu tố chính gồm nhà văn, người đọc, trường phái, thể loại. Đó tất nhiên là những thành phần cơ bản theo quan điểm của giới học thuật.

Thử nhìn lại những hội thảo văn học được tổ chức trong năm 2025, không khó nhận ra khi phác thảo dòng chảy nửa thế kỷ văn học thống nhất đất nước, rất ít ý kiến đề cập trực diện giai đoạn “tiền đổi mới” với khoảng thời gian từ năm 1975 đến năm 1985.

Công trình “Lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ 1945-1985” đã bổ khuyết cho khoảng trống ấy bằng góc nhìn đáng tham khảo: “Các nhà văn trẻ thì hấp dẫn ngay với hiện thực bộn bề trước mặt. Tính chất đương đại nóng hổi cũng dễ bắt gặp mối quan tâm của đông đảo bạn đọc. Các loại “tiểu thuyết tư liệu”, “tiểu thuyết phóng sự” trỗi dậy và chiếm lĩnh mặt tiền dư luận. “Đứng trước biển” và “Cù lao tràm” của Nguyễn Mạnh Tuấn là hai tiểu thuyết nổi bật nhất trong xu hướng này.

Các tác phẩm hấp dẫn người đọc bởi cách lựa chọn chỗ đứng của nhà văn, vị trí tham dự vào đời sống xã hội, để ghi lại một cách nóng hổi các hiện thực sôi động, trong tâm thế thẳng thắn và dũng cảm đặt ra các vấn đề tiêu cực đang làm bức xúc dư luận, nhất là trong quản lý sản xuất và tổ chức đời sống hậu chiến.

Nói cách khác, tiểu thuyết đã “gãi” đúng chỗ ngứa các mối quan tâm thường ngày của người dân đang vật lộn mưu sinh muốn tìm thấy ở báo chí và văn học nghệ thuật tiếng nói phản biện xã hội, lên án các thói quen trì trệ, đồng tình với những khát khao thay đổi đời sống. Các tác phẩm cũng cung cấp cho giới trí thức hiện thực sống động, giúp họ hiểu về đất nước và đời sống người dân, thúc đẩy ở họ khát khao đổi mới”.

Tuy Hòa

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.