Tặng Thanh Hải và các Thủ khoa năm 2023

Lê Quý Đôn - những ngả đường dẫn đến tài năng!

Tài năng nào cũng cần có năng khiếu. Lê Quý Đôn nổi tiếng thần đồng, có trí nhớ lạ lùng, người đời nhận xét là “thông minh lạ thường, sách vở gì đã xem một lần là không quên”.

Cho đến nay các kết luận khoa học về Lê Quý Đôn (1726-1784) hầu như đã ổn định, thống nhất, là một nhà “bách khoa thư”, “một tập đại thành”, một “nhà bác học lỗi lạc” với các tác phẩm lớn, về sách văn học có: “Toàn Việt thi lục”, “Quế Đường thi tập”; về sử học có: “Đại Việt thông sử”, “Phủ biên tạp lục”, “Kiến văn tiểu lục”, “Bắc sử thông lục”; về triết học có: “Thư kinh diễn nghĩa”, “Dịch kinh phu thuyết”, “Quần thư khảo biện”; về kinh tế có: “Vân đài loại ngữ”...

Đến nay đã có hàng trăm quyển sách, bài báo, công trình, hàng chục luận án tiến sĩ nghiên cứu về ông. Tên Lê Quý Đôn được đặt cho nhiều trường học, đường phố. Dân gian gọi ông bằng cái tên trừu mến, ngưỡng mộ là “túi khôn của đời”. Miền quê Hưng Hà (Thái Bình) nơi ông sinh ra và lớn lên vẫn còn câu truyền miệng: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” (Điều gì không biết, hãy hỏi Bảng Đôn).

Vậy những yếu tố nào đã làm nên một Lê Quý Đôn tài năng lừng lẫy?

image001.jpg -0
Tượng Lê Quý Đôn trong một trường học mang tên ông (ở TP Hồ Chí Minh).

1. Tài năng nào cũng là sản phẩm của môi trường gia đình và xã hội. Là con tiến sĩ Lê Phú Thứ, một bậc khoa bảng nổi tiếng đương thời nên cậu bé Đôn sớm được hưởng nền nếp giáo dục Nho gia thực học nghiêm khắc. Quê hương Hưng Hà - mảnh đất phát tích và hưng nghiệp của nhà Trần nổi danh lịch sử tác động không nhỏ đến cậu học trò Đôn thêm bao khát khao thi thố tài năng. Nhìn rộng ra, thế kỷ thứ XVIII xã hội Việt Nam đang cựa mình để nảy ra những hạt mầm mới mẻ về kinh tế, về thủ công nghiệp và thương nghiệp, về canh tân... Không ngẫu nhiên trên bầu trời văn hóa thời đó lấp lánh những vì sao Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác... Thêm một ngôi sao Lê Quý Đôn cũng là lẽ tự nhiên.

2. Tài năng nào cũng cần có năng khiếu. Lê Quý Đôn nổi tiếng thần đồng, có trí nhớ lạ lùng, người đời nhận xét là “thông minh lạ thường, sách vở gì đã xem một lần là không quên”. Có giai thoại cuốn sổ của xã trưởng biên tên người nộp thóc chẳng may bị hỏa hoạn, cháy ra tro, cậu trò Đôn từng đọc lướt qua, nên cứ theo trí nhớ mà đọc vanh vách... Người thông minh là người ứng đối giỏi. Văn bản bài thơ “Rắn” còn truyền lại đến nay cho thấy tác giả phải là một thần đồng thơ ca. 14 tuổi đã đọc hầu hết các bộ sách kinh điển của Nho học. Năm 18 tuổi đỗ Giải nguyên (đứng đầu kỳ thi Hương). Sau đó đỗ đầu các kỳ thi Hội và thi Đình (Hội nguyên và Đình nguyên).

3. Khoa học nhân học tổng kết để thành nhà bác học thì 99% nhờ cần cù, chỉ 1% là nhờ thông minh, may mắn. Ứng vào Lê Quý Đôn cũng thật đúng. Chỉ cần soi trước tác khổng lồ hàng trăm quyển sách quý vào một cuộc đời không dài (58 tuổi) cũng đủ thấy người ấy phải có nghị lực phi thường và sự cần cù hiếm có. Không phải giai thoại mà sử sách ghi khi đã đỗ đạt, làm quan lớn “mà không khi nào tay rời quyển sách. Nhờ thế mà kiến thức uyên thâm, hiểu sâu biết rộng, ngòi bút lại như bay, như múa, để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng cho đời”. Nhà sử học Phan Huy Chú ca ngợi ông học vấn cao sâu nhờ “xem rộng khắp hết sách vở nên kiến thức mênh mông, đồ sộ, lại sở trường bậc nhất về trước thuật (viết sách). Không sách nào không soạn, sao lục, biện luận. Thật sừng sững là danh nho của cả một đời...”.

4. Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hóa, với môi trường “thế giới phẳng” thế giới mới nhấn mạnh vào yếu tố khác biệt. Càng khác biệt càng dễ hội nhập, vì lẽ thông thường trong giao tiếp thì con người mong muốn tìm hiểu, khám phá, phát hiện những điều gì mình chưa có, chưa biết. Thực ra đó là chân lý cũng là nguyên lý của đời sống trước nay, rõ hơn cả trong khoa học, nghệ thuật. Cứ nhìn vào phong cách những người “khổng lồ” có ai giống ai đâu. Cũng nhờ vậy họ mới được đời sau tiếp nhận.

Lê Quý Đôn “khổng lồ” bởi ông rất khác biệt, trước hết là ở phương pháp đọc sách và viết sách đi liền với nhau, gắn bó với nhau như một vậy. Tiến sĩ Trần Danh Lâm nhận xét về người bạn Đôn của mình “không sách gì không đọc, không vật gì không suy xét đến cùng, ngày thường ngẫm nghĩ được điều gì đều viết ngay thành sách, sách chất đầy bàn, đầy tủ, kể ra không xiết…”.

Ngày nay người ta khái quát thành một phương pháp gọi là “thực chứng” tức chỉ ghi chép, nghiên cứu cái có thực, thì điều ấy Lê Quý Đôn đã làm và làm rất tiêu biểu qua công việc “điền dã” (còn gọi là phương pháp điền dã). Ông đi nhiều, đi đến đâu ghi chép đến đấy. “Đi”, “Đọc”, “Viết” là ba công đoạn của bất cứ nhà văn, nhà nghiên cứu nào. Nhưng thế mới chỉ là những yếu tố “đủ”. Còn phải các yếu tố “cần” nữa là suy nghĩ, nghiền ngẫm.

Cái riêng của Lê Quý Đôn là rất kỵ lối “tầm chương trích cú”. Ông ghét lối thi cử khuôn mẫu với mục đích học ra làm quan một cách “tròn trịa” mà không có nét riêng, thiếu bản lĩnh. Trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ” ông phê phán nho sĩ đương thời chỉ biết nhồi nhét những kinh điển viển vông và đề xuất thay đổi cách dạy để học trò biết “cả lục nghệ, trong đó cả văn tự (tức sách vở) và vũ bị (quân sự)”.

Đặc biệt lối học cũng như cách tiếp thu là phải tìm ra bản chất của vấn đề, như ông nói là “phải biết nắm lấy cái chính”. Tối kỵ lối “học vẹt” tức phải “có óc suy luận, không nệ vào sách vở”, ông đề cao “học” đi đối với “hành”: “đọc sách một thước không bằng hành được một tấc”. Chính ông là tấm gương “học” bằng cách đọc sách, “hành” bằng cách viết sách!

5. Với ngành khoa học xã hội, vì gắn liền với ý thức, tư tưởng dân tộc nên nhà nghiên cứu phải có thái độ tâm huyết thiết tha với truyền thống, phải lấy thành quả quá khứ làm nền móng để xây ngôi nhà học thuật mới. Về điểm này Lê Quý Đôn để lại cho hôm nay những bài học quý. Một là, phải coi tinh hoa truyền thống là kho tàng châu báu để làm giàu có tài sản cho riêng mình đồng thời phải biết làm giàu có thêm kho báu ấy. Hai là trân trọng truyền thống lịch sử cha ông càng phải biết đấu tranh giữ gìn truyền thống vẻ vang. Năm 1759 đi sứ nhà Thanh, khi sứ đoàn đi qua các châu, phủ bên xứ Trung Quốc thì bị gọi là “Di quan di mục” (quan lại mọi rợ), Qúy Đôn bèn viết thư cho Tổng đốc Quảng Châu phản đối. Triều đình Mãn Thanh phải ra lệnh gọi sứ đoàn nước ta là “An Nam cống sứ”.

6. Triết học liên văn hóa (The Intercultural Philosophy) hôm nay quan niệm cấu trúc chủ thể nhà văn hóa giống như cấu trúc một tòa lâu đài có nền móng vững chắc là văn hóa dân tộc; cái thân lầu là trí tuệ, tư tưởng, tâm hồn; được trổ nhiều cửa sổ ngôn ngữ để đón các luồng gió văn hóa bốn phương; có nhiều cửa chính đón độc giả từ khắp nơi ghé thăm, chiêm ngưỡng, học tập... Thế nên càng là nhà văn lớn tính liên văn hóa càng rõ mà trường hợp Lê Quý Đôn là rất tiêu biểu.

Khi đi sứ Trung Hoa ông gặp gỡ nhiều sứ thần các nước, tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng của nhà Thanh, bàn luận với họ nhiều vấn đề sử học, triết học... Đến nay đủ cứ liệu để khẳng định ông đã đọc các sách người Trung Quốc nói về Triều Tiên, Ấn Độ, Chân Lạp, Nam Dương, Ba Tư… Đặc biệt đã đọc sách của người Trung Quốc nói về tri thức phương Tây hoặc sách người Trung Quốc dịch từ sách phương Tây. Một kết luận chắc chắn rằng không nhờ những chuyến đi sứ ấy kiến thức của ông khó đầy đặn như đã có.

Ở trong nước, ông từng được cử đi công cán các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn (những năm 1772, 1774) để điều tra đời sống nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại, nạn man khai ruộng đất, trốn thuế... Ông nói được nhiều thứ tiếng, hiểu lịch sử văn hóa nhiều dân tộc. Kiến thức tích lũy lâu dần thành học vấn. Đó là quá trình liên văn hóa, như chính ông “định nghĩa” (không khác mấy so với hôm nay) trong lời tựa sách “Kiến văn tiểu lục”: “Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu. Thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt Bắc sang sứ Trung Quốc, mặt Tây bình định Trấn Ninh, mặt Nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe đều ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận…”. Như vậy, có thể hình dung cây đại thụ Lê Quý Đôn có bộ rễ thật khỏe mạnh cắm sâu vào các mảnh đất văn hóa nên cường tráng, tốt tươi và sống mãi là như vậy!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).