Lễ hội- Ý nghĩa và mô hình tổ chức

Lễ hội là hình thức văn hóa dân gian có tính cộng đồng rất cao, được coi là "cuộc sống thứ hai" không thể thiếu của con người, nhất là với cư dân ở vùng văn minh nông nghiệp.

Không đơn giản chỉ là tái hiện những mô thức văn hóa cổ xưa mà qua đó lễ hội thể hiện khát khao nhân bản được tiếp nối và phát huy sức mạnh, sự toàn năng của thiên nhiên hay thần linh và các anh hùng trong lịch sử. Là sinh hoạt tập thể đem lại sự hứng khởi cho mọi người nên những nghi thức lễ hội dần đi vào tâm thức tạo thành niềm cộng cảm thiêng liêng của cộng đồng.

Cùng tham dự một lễ hội, người ta cảm thấy như muốn gắn kết với nhau hơn, muốn được chia sẻ hơn, như được tiếp thêm sức sống. Vì thế thời điểm lễ hội được coi là "thời điểm mạnh" trong đời sống hội tụ những nét tích cực nhất của một trình độ tổ chức; những trạng thái tình cảm thăng hoa, vui vẻ và cũng là thời điểm hội tụ những hình thức lễ nghi và những trò diễn dân gian đặc sắc nhất.

Lễ hội chính là sự kết tinh của một quá trình tiếp biến văn hóa lâu dài, bền bỉ. Qua hình ảnh lễ hội sẽ nhìn thấy ước mơ, nguyện vọng của cả một cộng đồng hướng về những điều tốt đẹp. Có thể coi tinh hoa văn hoá của một cộng đồng được lắng đọng trong lễ hội. Đó là một mã văn hoá đậm đặc các giá trị tinh thần mà nếu bóc tách các lớp vỏ hình thức người ta sẽ tìm thấy cái lõi bản chất văn hoá.

Lễ hội là sự cộng hưởng các giá trị về mặt lịch sử, phong tục, văn chương, nghệ thuật, là bảo tàng sống về các giá trị tinh thần, dân chủ, nhân văn đã được kết tinh trong suốt chiều dài lịch sử. Đó là sự thỏa mãn các nhu cầu về tín ngưỡng, tâm linh, về giải trí. Đó là nhu cầu giao lưu, học hỏi, là sự đoàn kết. Quan trọng nhất là nhu cầu sáng tạo và thụ hưởng văn hóa góp phần nâng cao đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư.

Bảo tồn lễ hội Truyền thống Việt Nam là việc làm vô cùng cần thiết.
Bảo tồn lễ hội Truyền thống Việt Nam là việc làm vô cùng cần thiết.

Do tính phức tạp và đa dạng của đối tượng nên trên thế giới hiện nay có xu hướng tìm hiểu lễ hội khác nhau. Có quan điểm coi lễ hội là sự thích nghi, hoà nhập của con người với môi trường, từ đó tìm hiểu cách ứng xử của cộng đồng với tự nhiên (cây cối, đất đai, mưa nắng...), với xã hội (chống giặc ngoại xâm, giáo dục điều thiện...).

Quan điểm này cho thấy hầu hết các lễ hội hướng con người hoà nhập và sống chung với môi trường lành mạnh. Con người không thể chi phối nhưng có thể lợi dụng tự nhiên để sống hài hoà với tự nhiên. Có xu hướng lại coi lễ hội có chức năng điều hoà xã hội.

Ví như các lễ hội về các sự kiện lịch sử giáo dục tinh thần yêu nước, tự chủ tự cường..., những lễ hội cầu may nuôi dưỡng khát vọng vươn lên... Có quan điểm lại cực đoan chỉ nghiên cứu ảnh hưởng tốt xấu, hay dở của lễ hội tới các quan hệ đương đại mà bỏ qua các yếu tố lịch sử. Xu hướng được coi là khoa học và toàn diện nhất vẫn là phương pháp tiếp cận mácxit với nguyên tắc biện chứng tìm hiểu mối quan hệ giữa tự nhiên và văn hoá, coi lao động là nguồn gốc của mọi văn hoá.

Từ định hướng này mà văn hoá học khẳng định lễ hội là một quá trình xã hội, là lĩnh vực hoạt động tinh tế, là sản phẩm văn hoá của con người.

Phạm trù lễ hội ngày càng được nhìn nhận sâu hơn về bản chất, được coi là thành tố cơ bản của văn hoá. Văn hoá thể hiện trình độ người thì nhìn vào lễ hội sẽ thấy rõ trình độ người của một dân tộc, một nền văn hoá.

Do vậy nhiều nước rất quan tâm đến việc bảo tồn, lưu giữ và phát triển lễ hội với quan điểm vừa đậm đà bản sắc vừa giàu có tinh thần nhân văn. Vì chỉ có như vậy lễ hội mới trở thành di sản văn hoá, thành tài sản quốc gia, mới gắn kết và gắn nối các cá nhân trong cộng đồng, mới có thể đi ra được với thế giới để đối thoại với các nền văn hoá khác, mới thu hút được khách du lịch...

Giới văn hoá gần như đồng thuận coi lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng. Chủ thể lễ hội là nhân dân lao động, do vậy xem xét bảo lưu, loại bỏ, phát triển các yếu tố tiêu cực, tích cực đều phải căn cứ vào cái gốc chủ thể này.

Lễ hội cổ truyền mang tính thiêng liêng rất cao nhưng trong suốt quá trình tiếp biến nó thay đổi để thích ứng với thời đại. Do vậy để nắm bắt được bản chất văn hoá phải tìm về cội nguồn nguyên thuỷ của lễ hội rồi xuôi dòng thời gian tìm ra những nét phái sinh...

Một đất nước giàu có lễ hội là một đất nước giàu có, đa dạng và cũng đậm bản sắc văn hoá. Phát huy hết giá trị văn hoá của lễ hội sẽ đem lại những ý nghĩa rất to lớn, là sự liên kết cộng đồng, hướng con người về nguồn cội, là sự cân bằng đời sống, là sự bảo tồn và trao truyền các giá trị, là sự hưởng thụ và sáng tạo văn hoá...

Việt Nam là đất nước của lễ hội, chưa nói tới vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc, ngay việc tổ chức, quản lý, điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh hôm nay là việc rất phức tạp, khó khăn. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, bài học chung của thế giới là lấy điểm tựa từ hai khái niệm gốc: nhân văn và khoan dung. Nhân văn chú ý tới tính người, trình độ người.

Lễ hội nào có yếu tố xa lạ, đi ngược lại tính người nên dần được loại bỏ, ví như các trò cướp hay tục đâm chém động vật... Khoan dung lại nhấn vào sự khác biệt, tôn trọng sự khác biệt tức lễ hội phải rất riêng, phải nói được tâm hồn, tính cách, ước mơ, khát vọng của chủ thể văn hoá.

Yêu cầu chung của việc tổ chức một lễ hội phải bảo đảm được sự thiêng liêng, giữ được những giá trị nhân văn, tránh những mê tín dị đoan... đồng thời phải đáp ứng sự thỏa mãn nhu cầu sáng tạo, giải trí của người dân, vừa phong phú, hấp dẫn, phù hợp thị hiếu công chúng, vừa bảo đảm tính giáo dục lành mạnh, hiệu quả.

Có bốn mô hình tổ chức lễ hội thường gặp ở nhiều nền văn hoá đương đại: Một, mang tính cộng đồng tự quản; Hai, kết hợp hình thức cộng đồng tự quản có sự trợ giúp của Nhà nước; Ba, có sự trợ giúp chủ yếu của Nhà nước; Bốn, do tư nhân điều hành.

Mô hình thứ nhất hay được sử dụng ở nhiều nơi vì phát huy tối đa những nét bản chất của lễ hội, thể hiện ở: Giá trị lễ hội được phát huy vì không ai hiểu tinh thần lễ hội bằng chủ thể văn hoá; Bảo lưu tối đa các yếu tố bản sắc có từ quá khứ; Là chủ nhân của lễ hội nên người dân rất có ý thức trân trọng di sản truyền thống.

Lễ hội gần như vẫn giữ được trạng thái nguyên thủy, ít có sự can thiệp của văn minh hiện đại nên thu hút được đông đảo người xem. Hơn nữa, là người địa phương hiểu sâu sắc ý nghĩa, giá trị lễ hội, việc làm lại của chung cộng đồng nên được toàn dân ủng hộ, không chỉ người địa phương, mà còn thu hút, cổ vũ, khuyến khích cả con cháu họ sinh sống, công tác ở những vùng quê khác, nơi khác. Khi mọi người dân coi lễ hội như là một phần cuộc sống của mình, là việc của mình thì việc duy trì, phát huy giá trị văn hoá truyền thống nói chung sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn.

Như vậy mô hình này vừa chú ý tới chất lượng nội dung lễ hội vừa làm tốt công tác xã hội hóa. Nhà nước không phải gánh ngân sách, thậm chí còn được hưởng lợi. Đây là mô hình tổ chức lễ hội ưu việt nhất nên được quan tâm chú ý, phát huy và nhân rộng ở nước ta.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).