Làng lụa Hội An - Những tấm lụa mang tâm hồn Việt

Trong những ngày hè nắng nóng như đổ lửa, Hội An là một điểm đến hấp dẫn du khách không chỉ bởi những ngôi nhà rêu phong cổ kính, thâm trầm, bởi một văn hoá sống chậm rãi, êm đềm mà còn bởi những cửa hàng vải tơ lụa dịu mát. Chỉ cách trung tâm phố cổ chừng hơn 1km, bạn sẽ bước vào một không gian truyền thống của người xưa để nhớ, để thương, để vấn vương với tên gọi làng lụa Hội An.

Việt Nam đẹp không chỉ với bãi biển trải dài cong hình chữ S, mà còn bởi giàu làng nghề truyền thống lưu giữ tự bao đời. Cùng với những làng nghề truyền thống khác, tơ lụa là một thứ hàng xa xỉ đã từng có những thời kì cực thịnh giao thương tấp nập trên biển, trên sông mang tên con đường tơ lụa.

Trải qua bao thăng trầm thời gian, đến nay nước ta vẫn còn lưu giữ được 4 làng nghề làm lụa tạo nên thương hiệu Việt: làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông (Hà Nội), làng lụa Nha Xá (Hà Nam), làng lụa Tân Châu (An Giang), làng lụa Duy Xuyên, Hội An (Quảng Nam).

Trong những ngày hè nắng nóng như đổ lửa, Hội An là một điểm đến hấp dẫn du khách không chỉ bởi những ngôi nhà rêu phong cổ kính, thâm trầm, bởi một văn hoá sống chậm rãi, êm đềm mà còn bởi những cửa hàng vải tơ lụa dịu mát. Chỉ cách trung tâm phố cổ chừng hơn 1km, bạn sẽ bước vào một không gian truyền thống của người xưa để nhớ, để thương, để vấn vương với tên gọi làng lụa Hội An.

Những con tằm nhả tơ

Khác xa với sự sầm uất ở thành phố biển Mỹ Khê, Đà Nẵng, hay những quán tây chạy bên phố đèn lồng Hội An, làng lụa Hội An nằm trên đường Nguyễn Tất Thành được tái hiện với không gian xưa cổ kính, dịu mát. Thật khó có thể cưỡng lại vẻ đẹp của những tấm lụa óng ánh, mềm mại, mướt mịn mà những người thợ tài hoa nơi đây đã cho ra những sản phẩm độc đáo, đặc sắc đến nhường này. Tại đây, chúng ta sẽ được thưởng thức do các người thợ tái hiện lại cả một quá trình hình thành và phát triển, cùng với không gian sống của người xưa cách nay đã 300 năm khi dệt ra những tấm lụa mang tên lụa xứ Quảng.

untitled-14.jpg -0
Các công đoạn chuẩn bị nguyên liệu dệt.

Để có được những tấm tơ lụa hảo hạng, người thợ truyền thống nơi đây đã phải dầy công với nhiều công đoạn thủ công. Lụa được tạo nên từ tơ của những con tằm. Bước chân vào làng nghề truyền thống bạn sẽ được hướng dẫn viên du lịch giới thiệu cặn kẽ về sự ra đời của những con tằm nhả tơ. Đầu tiên có hai giống tằm chính để cho ra tơ, đó là tằm trắng ở phía Bắc Việt và tằm vàng ở các tỉnh miền Trung. Tằm trắng cho ra những sợi tơ trắng, từ những sợi tơ trắng này người ta có thể nhuộm hấp thành nhiều màu. Tằm vàng cho ra những sợi tơ vàng và nếu có nhuộm thì chỉ nhuộm được màu đen. Chính vì thế tơ của tằm trắng bao giờ cũng đắt hơn tơ tằm vàng. Những con tằm trắng cũng to hơn những con tằm vàng. Để phân biệt tằm thì người ta nhìn thân của chúng, tằm trắng có thân hình màu trắng còn tằm vàng thì thân màu trắng nhưng chân màu vàng.

 Vòng đời của con tằm sẽ kéo dài 40 ngày. Giai đoạn ở trong kén, trứng nhỏ xíu nở ra những con tằm con rất bé chỉ bằng sợi tóc, khi đạt đủ 24 ngày thì bắt đầu nhả tơ và lúc này tằm ngưng ăn hoàn toàn. Sau đó, người ta nhặt những con tằm lên những thân gỗ đã đan sẵn để tằm mất từ 3 đến 4 ngày đan liên tục hoàn thành xong cái kén. Sau khi đan xong kén thì tằm sẽ chuyển thành hình dạng nhộng (con ngài) sẽ chui ra từ cái kén. Nhiệm vụ đầu tiên khi con ngài chui ra là giao phối liên tục suốt một tuần lễ, kết thúc quá trình giao phối thì con ngài đực sẽ kiệt sức và chết, ngài cái sẽ tiếp tục đẻ trứng. Một con ngài cái có thể đẻ được từ 300-500 trứng.

Người ta sẽ lấy 80% kén bên trong có con nhộng ra sấy khô, phơi nắng, mục đích không cho con nhộng thành con ngài, bởi nếu thành con ngài thì nó sẽ cắn sợi tơ từ bên trong đi ra. Hồi xưa khi chưa có máy sấy thì người ta sẽ đem những con nhộng đi phơi nắng để làm những sợi tơ óng ánh hơn. Để từ kén mà ra tơ, người thợ làng nghề sẽ nấu nồi nước lên nhiệt độ 70-80 độ C, luộc 20 tiếng để tơ sẽ mềm hơn và bóc lớp vỏ xù ở bên ngoài kén, rồi dùng đũa để đẩy những sợi tơ bên trong ra. Sau khi quay tơ xong người ta nhặt hết những con nhộng ra phơi nắng rồi đem xào ăn trở thành món khoái khẩu của làng lụa Hội An. Một cái kén ước tính kéo ra được 600-1000m tơ. Nghĩa là 1 cái kén tương đương với 1km tơ. Người ta lại tiếp tục đem phơi sau khi khô lại rồi bắt đầu đem luộc cho mềm thành tơ sống.

Khung dệt Cữu Diễn

Sự ra đời khung dệt Cữu Diễn là một câu chuyện kì bí cho đến nay vẫn được truyền tụng trong làng nghề. Hội An cách kinh đô Huế 70km, trong cung đình Huế khi xưa việc chọn lựa vải để may đồ cho hoàng tộc là một công việc đòi hỏi kĩ càng công phu. Các loại vải được thu nhận về cung đình không làm cho hoàng tộc dòng họ Nguyễn cảm thấy thoải mái vì sự đơn điệu. Lúc đấy, một nghệ nhân tên là Võ Dẫn quê gốc Duy Trinh, Quảng Nam đã sáng tạo ra một khung dệt vào năm 1935. Trước khi có khung dệt này người dân ở đây chỉ quay bằng tay thoi đưa và dù có miệt mài kiên trì đến mấy thì cũng chỉ dệt được từ 2 đến 3m trong một ngày. Người dân ở đây đã duy trì quay tay lên đến hơn 200 năm.

untitled-15.jpg -0
Xưởng dệt của một người dân.

Khung dệt của nghệ nhân tài hoa Võ Dẫn dệt được khổ vải rộng nhất là 90cm bề ngang (9 tấc) có chiều dài vải là 1,6m đến 1,8m. Sau khi sáng tạo ra được khung dệt ông được nhà vua ban chức Cửu phẩm. Ông có người con gái đầu tên là Diễn, nên đã lấy chức hàm của vua ban và tên của con gái đầu đặt tên cho khung dệt này là Cửu Diễn. Khung dệt Cửu Diễn đánh dấu bước phát triển lớn của ngành dệt Quảng Nam, sau này lan rộng ra các tỉnh phía Bắc. Thời điểm hiện giờ còn ít nghệ nhân sử dụng được khung dệt đạp chân này.

Năm 1945 người ta thay bàn đạp khung dệt bằng động cơ điện, cho đến ngày nay thì nền công nghệ đã có một bước tiến nhẩy vọt, khung dệt chạy hoàn toàn bằng điện và công suất chạy đạt  30m/ngày.

 Đã từng có thời kì tơ lụa Hội An được thuyền bè tấp nập của những thương lái nước ngoài tìm mua để dệt bên trong lớp áo giáp, nguyên do là tơ lụa truyền thống khi bén lửa sẽ chỉ âm ỉ chứ không bị bốc lửa như sợi vải pha ni lông.

Trong không gian mát rượi của làng nghề truyền thống, người ta sẽ được tận mắt chứng kiến khung dệt lạ lẫm của người Chăm Pa do các nghệ nhân có tay nghề cao miệt mài ngồi dệt. Để dệt được hoa văn, những người thợ tạo những viên đá treo, khi kéo đá lên, xuống theo đúng quy luật mới ra được đúng hình sợi hoa văn nổi hay chìm trên tấm vải. Tuy nhiên, kì công như vậy nhưng khung dệt người Chăm Pa kéo chỉ được khoảng 24cm bề ngang, mỗi ngày chỉ dệt được từ 2-3m. Nếu người thợ kiên trì cặm cụi dệt từ ngày nọ sang tháng kia sẽ có được miếng thổ cẩm dài đến 100m. Xưa kia người Chăm sống nhiều ở đây, nhưng ngày nay người Chăm chỉ sống rải rác từ tỉnh Bình Định cho đến An Giang.

Sự trải nghiệm độc đáo

Từ trước đến nay lụa vẫn là thứ hàng xa xỉ đắt đỏ và sang trọng. Trong thời kì phong kiến lụa được cung tiến cho hoàng tộc và tầng lớp quan lại, hoặc thương gia giầu có mới có đủ điều kiện để mặc lụa. Ngày nay, tơ lụa vẫn là thứ hàng có giá thành cao nhất đứng đầu trong vải. Tuỳ vào chất lượng tơ lụa khổ 1,15m có giá giao động từ 700.000 nghìn đồng/mét đến 1500.000 nghìn đồng/mét. Một bộ áo dài phải tốn 5,5m vải lụa.

 Đến với làng lụa Hội An để ngắm những tấm lụa óng ánh, rực rỡ, mát mịn, du khách được trải nghiệm với bãi dâu xanh biếc để lấy lá nuôi tằm. Để tiếp nối mạch nguồn di sản văn hoá thế giới đô thị cổ Hội An, làng nghề truyền thống lụa Hội An còn là bảo tàng sống về các giống dâu, giống tằm, công cụ và cách thức dệt thủ công của người Quảng Nam khi xưa và người Chăm cổ. Ngôi làng Duy Xuyên (Hội An) có lịch sử lâu đời lên đến 300 năm vẫn giữ được nguyên vẹn hồn cốt từ nuôi tằm đến dệt lụa nét đặc trưng rất truyền thống dệt lụa của người Việt xưa. Ngắm nhìn những tấm vải lụa hảo hạng người ta càng thấy trân trọng những người thợ thủ công lành nghề đã trao trọn đời mình bên khung cửi để cho ra những tấm lụa mang tâm hồn và bóng dáng Việt Nam.

Mỹ Trân

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).