Kỷ niệm 131 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2021):

Láng 5 hương nắng làng sen

Làng Sen quê Bác là một không gian Việt, một làng quê Việt, một hình ảnh Việt đã quy tụ thu nhỏ ở đây, kết tinh lại bao vẻ đẹp bình dị, thân thương của những nếp nhà mái tranh, tường tre ấm áp tình người làng quê xóm mạc.

Tháng 5, làng Sen ngát hương Sen đó là hương nắng, hương đồng quê, hương tinh khiết biểu tượng cho những phẩm chất cao quý của vẻ đẹp con người Việt Nam, mà tiêu biểu nhất là Bác Hồ kính yêu.

Nhà Bác ở Làng Sen (Nam Đàn - Nghệ An).
Nhà Bác ở Làng Sen (Nam Đàn - Nghệ An).

Về quê Bác mới biết tình quê mộc mạc đã ngấm sâu vào Bác cả những câu dân ca như mạch nguồn nuôi dưỡng Người bằng những phong vị từ văn hóa dân gian đến với văn hóa bác học. Năm 1906, người rời làng Sen theo cha vào Huế và phải đến năm 1957, Người mới trở lại thăm quê nội. 

Về đây tôi gặp lại sông Lam, cái nôi sinh ra tục hát đò đưa nổi tiếng. Có lẽ cũng bởi vì thế mà dù xa Tổ quốc hơn 30 năm ra nước ngoài tìm đường cứu nước nhưng Bác Hồ vẫn nhớ như in những câu hát quê nhà: “À ơi! (chứ) Ai biết nác sông Lam răng lại trong, lại đục/ Thì biết được cuộc đời răng là nhục, là vinh/ (chứ) Thuyền em lên thác xuống gành/ Nác non là nghĩa, là tình ai ơi”. Và chính Bác Hồ đã sửa chữ “nước” thành chữ “nác” cho một nghệ nhân trong đoàn dân ca Nghệ Tĩnh khi hát cho Người nghe. 

Chúng tôi về Hoàng Trù quê ngoại của Bác, xưa gọi là làng Chùa. Đây là nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời. Ngôi nhà nơi Bác sinh ra gồm 3 gian, hướng nhà mở về phía Nam. Năm 1883, khi Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan làm lễ thành hôn, ông bà Hoàng Xuân Đường đã dựng ngôi nhà này trong vườn của mình cho các con ra ở riêng. 

Gian nhà ngoài là nơi học tập và nghỉ ngơi của ông Nguyễn Sinh Sắc, đầu hồi là một chiếc án thư, trên án có nghiên mực và ống đựng bút lông, chếch phía trong có cái giá để sách. Đây là nơi hằng ngày Nguyễn Sinh Sắc dùi mài kinh sử. 

Dân làng Chùa còn nhớ kỳ thi Hương khoa Giáp Ngọ (1894), lúc cậu bé Nguyễn Sinh Cung đang cùng bè bạn câu cá bên hồ sen thơm ngát là lúc tin ông Nguyễn Sinh Sắc đậu cử nhân trường Nghệ lan nhanh về làng Chùa, cậu hớn hở chạy ra đồng tìm mẹ báo tin. 

Gian nhà thứ hai là gian buồng nơi nghỉ ngơi của bà Hoàng Thị Loan. Ở đây có kê một chiếc giường tre nhỏ đơn sơ và tấm vải màn nhuộm nâu do bà tự dệt lấy. Chính tại ngôi nhà nhỏ này, bà đã sinh ra 3 người con. Năm 1884 là con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh, hiệu là Bạch Liên. Năm 1888 sinh con trai thứ là Nguyễn Sinh Khiêm (Nguyễn Tất Đạt). Và năm Canh Dần (1890), người con thứ ba Nguyễn Sinh Cung mà dân địa phương thường gọi là Nguyễn Sinh Côông (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này). Ở đây còn lưu giữ chiếc rương gỗ, món quà hồi môn của bà Hoàng Thị Loan ngày đi lấy chồng, để đựng gạo và các vật dụng quý. 

Ở gian thứ ba có một bộ dụng cụ dệt vải. Ngoài công việc đồng áng, đêm đêm, sau khi lo cơm nước cho chồng con, bà Hoàng Thị Loan lại ngồi vào khung cửi miệt mài dệt những tấm vải. Bà như chuốt vào đó những tháng ngày lam lũ nhưng ngời lên bao hy vọng về con đường học hành thi cử của chồng và sự khôi ngô tuấn tú, chăm học của những đứa con, đặc biệt là sự thông minh, sáng dạ của cậu bé Cung. Bà dệt vào đó những đêm gà gáy sáng canh hai, canh ba mà ngọn đèn dầu lạc vẫn còn tỏa sáng.

Mộ Bà Hoàng Thị Loan (Thân mẫu Bác Hồ).
Mộ Bà Hoàng Thị Loan (Thân mẫu Bác Hồ).

Ngày 9-12-1961, về thăm quê lần thứ hai, Bác Hồ mới có dịp thăm lại ngôi nhà nơi Người cất tiếng khóc chào đời và sống những năm đầu ấu thơ. 

Người làng Chùa kể lại rằng: Khi về thăm nhà, Bác đi từ gian này đến gian kia. Bác dừng lại giây lát trước chiếc án thư để một đôi tràng kỷ nơi xưa cụ Hoàng Xuân Đường ngồi giảng sách. Bác bùi ngùi nhìn chiếc giường thấp, nơi người mẹ thân yêu thường ôm Bác vào lòng. Bác nhìn cái rương đựng lương thực có cái lỗ nhỏ mà ngày ấu thơ, Bác và anh cả Khiêm thường thò ngón tay trỏ vào ngoáy ngoáy. Bồi hồi, Bác nói: “Các cô, các chú thật khéo giữ, chiếc rương gỗ ngày xưa vẫn còn...”. 

Sau đó, Bác ra ngồi xổm trước thềm nhà, thân mật nói chuyện với bà con làng Chùa. Bất ngờ, Bác gặp lại ông Nguyễn Thuyên - người bạn câu cá ngày nhỏ, Bác nhắc lại kỷ niệm một lần đi câu, bè bạn giật lưỡi câu rách vành tai. Khi nghe bạn “Thưa Chủ tịch”, Bác thân mật bảo: “Cứ gọi tôi là Cung như ngày trước”.

Tạm biệt quê ngoại Hoàng Trù, chúng tôi theo con đường làng sang thăm quê nội làng Sen của Bác. Sau nhiều năm dùi mài đèn sách và trải qua hai lần thi Hội, ông Nguyễn Sinh Sắc đã đậu Phó bảng khoa Tân Sửu (1901). Theo quy định dưới triều Thành Thái, người đậu đại khoa như ông được hưởng lễ “vinh quy bái tổ”. Khi triều đình đưa về đến Vinh-tỉnh lỵ Nghệ An, chức sắc và dân làng Sen mang cờ, võng xuống rước quan Phó bảng về quê. Ông Nguyễn Sinh Sắc đã từ chối mọi nghi thức, rồi cuốn cờ, võng cùng mọi người đi bộ về làng. 

Vinh dự, tự hào khi lần đầu tiên trong làng có người đậu Đại khoa, và cũng là để bày tỏ lòng cảm thông trước cảnh ngộ “gà trống nuôi con” của ông, làng đã tặng ông mảnh ruộng học điền rộng 4 sào 14 thước Trung Bộ và mua một ngôi nhà gỗ 5 gian từ xã Xuân La về dựng, rồi trân trọng xuống Hoàng Trù mời 4 cha con ông về làng sinh sống.

Chính vì vậy, vào ngày 16-6-1957, trong dịp về thăm quê lần đầu, khi vào thăm nhà, Bác Hồ đã chỉ vào ngôi nhà mà nói: “Đây là nhà của cụ Phó bảng”. Để ghi nhớ công ơn người vợ hiền, ông Nguyễn Sinh Sắc đã lập bàn thờ giản dị để thờ bà Hoàng Thị Loan. Gian thứ nhất ông Nguyễn Sinh Sắc kê một bộ phản gỗ được ngả từ cây đa làng, làm nơi tiếp khách. Khách của ông thường là những người bạn hữu khoa bảng, những chí sĩ yêu nước đương thời như: Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Nguyên Cẩn... 

Cậu bé Nguyễn Sinh Cung thường được làm công việc tiếp nước, hầu trà các cụ. Qua những buổi lắng nghe các cụ xướng họa, bình văn, đàm đạo thời cuộc, với sự mẫn cảm sẵn có, nhận thức về truyền thống lịch sử-văn hóa, về nỗi thống khổ nước mất nhà tan như một dòng chảy tự nhiên ngấm dần vào tâm hồn Nguyễn Sinh Cung, để từ đó cậu sớm nảy nở lòng yêu quê hương, đất nước, ý chí cứu nước, cứu dân.

Gian thứ ba là gian buồng nơi nghỉ ngơi của người con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh. Gian thứ tư là nơi nghỉ và đọc sách của ông Nguyễn Sinh Sắc, gian thứ năm là nơi nghỉ của hai anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung. Ngoài ra còn có ngôi nhà ngang 3 gian là nơi nấu ăn của gia đình Bác. Nội trợ là chị cả Thanh, còn cậu bé Cung thì gánh nước ở giếng Cốc về giúp chị thổi cơm. 

Khi về thăm quê nội, Bác bồi hồi chào hỏi bà con rồi đi theo lối riêng. Bác bảo: “Lối đi của nhà tôi ngày trước ở đàng này”. Ra thăm sân vườn, Bác chỉ chỗ nào có hàng cau năm cây, chỗ nào có cây ổi đào nhiều quả ngọt. Bác chỉ bên nào có hàng rào dâm bụt, bên nào có hàng rào chè Mạn Hảo. Đi trên con đường nhỏ rợp bóng tre của làng, Bác hỏi thăm giếng Cốc và lò rèn cố Điền. Hôm đó, Bác đã nói chuyện với bà con Kim Liên tại gốc đa bên con đường đi vào xóm Phú Đầm, Bác cho các cháu nhỏ kẹo và gửi trà tặng phụ lão.

Về thăm quê Bác, chúng tôi đã lên thắp hương phần mộ bà Hoàng Thị Loan-thân mẫu Bác Hồ. Đây là nơi ông Nguyễn Sinh Khiêm đi khắp Nam Đàn tìm huyệt đất tốt để cải táng cho mẹ. Vị trí được chọn này tại núi Động Tranh, thuộc dãy Đại Huệ (xã Nam Giang).

Theo thuyết phong thủy phương Đông, thế đất ở đây hội tụ đủ các yếu tố cần thiết cho một huyệt đất tốt. Đầu mộ gối lên núi Động Tranh cao thuộc dãy Đại Huệ hùng vĩ, chân mộ đạp lên con lạch nhỏ từ Nộm Hộ chảy qua làm tiểu mạch và xa hơn là dòng Lam huyền thoại chảy quanh làm đại mạch thủy. Đứng nơi đây có thể bao quát cả một vùng quê rộng lớn, sơn thủy hữu tình, nhìn thẳng về làng Chùa, làng Sen. 

Phần mộ bà Hoàng Thị Loan, thân mộ được ốp bằng đá hoa cương, đưa từ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào, chân mộ được ốp bằng đá cẩm thạch lấy từ huyện Quỳ Hợp (Nghệ An). Toàn bộ phần mộ được che bằng giàn hoa bê tông kiểu dáng như giàn hoa ở Phủ Chủ tịch, đồng thời như một chiếc khung cửi cách điệu-một công cụ lao động gắn bó suốt cuộc đời bà. Trên giàn hoa được phủ bằng hoa giấy được đưa từ khu mộ ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở Cao Lãnh (Đồng Tháp) về trồng. Hai bên phần mộ là đường lên xuống với hàng trăm bậc đá như hai dải lụa đào uyển chuyển. 

Đặc biệt, ở lưng chừng núi Bạch Hổ thuộc núi Động Tranh, gần mộ bà Hoàng Thị Loan có mộ bà Hà Thị Hy (bà nội Bác Hồ) cũng được ốp gạch granite màu đỏ thẫm. Du khách qua đây thắp hương trước khi lên viếng mộ thân mẫu của Bác-bà Hoàng Thị Loan. 

Tháng Năm này, tôi xúc động khi gặp nhiều đoàn khách từ khắp mọi miền đất nước, đủ các lứa tuổi, từ các cụ già đến các cháu nhỏ, quy tụ về đây, về làng Sen: Quê chung! Và tôi bồi hồi mong ước được một lần vào Cao Lãnh (Đồng Tháp), quê hương của những đầm sen bát ngát để được viếng thăm đền thờ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Bỗng ngân nga và vang vọng trong tôi hai câu thơ của nhà thơ Bảo Định Giang đẹp như một áng ca dao thuần Việt tỏa ra hương nắng làng Sen: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”...

Nguyễn Ngọc Phú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).