Lái Thiêu mùa trái chín

Chúng tôi tới Lái Thiêu đúng vụ sầu riêng chín rộ. Mùa thu ở miền Tây sông Sài Gòn đậm sắc hương hoa lan tỏa khắp nơi. Lái Thiêu tuy thuộc đất Bình Dương nhưng lại giáp TP Hồ Chí Minh và được coi là miệt vườn khổng lồ quanh năm xanh mát với diện tích trồng cây chừng 1.300 ha. Con gái ở vùng sông nước này nổi tiếng là xinh đẹp. Trong dân gian xưa có câu: "Ai về ngang đất Lái Thiêu/ Nhớ người con gái mỹ miều nết na".

Những vườn cây "Nữ hoàng" và vị ngọt sầu riêng

Cho dù quanh năm hoa trái đầy vườn: "Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm/ Xoài ngon, mít ngọt, chuối thơm bạt ngàn" nhưng đặc sản ở Lái Thiêu đích thị chỉ có sầu riêng và măng cụt. Hai loại quả này mang đặc trưng hương vị vượt trội so với nhiều vùng. Hơn nửa thế kỷ qua, "Măng cụt Lái Thiêu" là một thương hiệu cấp hàng cho nhiều vùng quê. Lái Thiêu như lễ hội vào mùa Sầu riêng tháng 9.

Bến cảng Lái Thiêu ngát hương suốt ngày đêm. Đến nay có thêm nhiều phương tiện chuyên chở nhưng khu chợ hoa quả Lái Thiêu vẫn rộn ràng quanh năm. Nhà thơ Võ Quê (Thừa Thiên - Huế) từng đến đây đã trao gửi cảm xúc với vị thơm dịu và ngọt thanh của trái măng cụt qua bài thơ "Em có về Lái Thiêu". Ông viết: "Anh hỏi em có về lại vườn măng/ Nơi cánh võng dập dìu cây lá/ Nơi con kênh xanh mái chèo yên ả/ Tiếng gà trưa nhẹ gáy trước thềm".

3-quầy vú sữa chợ lái thiêu.jpg -0
Quầy vú sữa chợ Lái Thiêu.

Nếu "Măng cụt Lái Thiêu" được coi là "Nữ hoàng" hoa quả thì "Sầu riêng Lái Thiêu" cũng nức tiếng thơm ngon khắp Lục tỉnh. Có lẽ do đất và nước nơi đây đem lại vị ngọt riêng mà không nơi nào sánh được. Trăm năm qua hai sản phẩm này được ghi dấu trong đời sống: "Anh về chợ Búng nhớ em/ Sầu riêng, măng cụt nhớ đêm quà về". Trái sầu riêng còn được lưu truyền trong dân gian: "Hương khơi biêng biếc nỗi niềm/ Trái sầu riêng-dễ- sầu riêng- riêng mình/ Cầu Ngang bắc nhịp vô tình/ Chân qua mê mải ngước nhìn bóng quen".

Còn đó một câu chuyện rằng, cách đây hơn ba trăm năm có những gia đình người Minh Hương xa lạ đến Lái Thiêu mở lò gốm. Người con trai họ Lục nọ đã yêu một cô gái miệt vườn. Mối tình mỗi ngày một sâu nặng nhưng lại bị gia đình cả hai bên ngăn cấm. Hai người chán nản và sống trong sự đau khổ buồn rầu. Họ quyết tìm đến cái chết để tình yêu mãi mãi bên nhau. Mộ hai người được chôn cất cạnh nhau bên sông.

Đột nhiên một đêm mưa giông kéo đến chim bay táo tác mang thức ăn về cho đàn con. Chúng đã gieo xuống đây một hạt giống trên hai ngôi mộ tình yêu. Buổi sáng tinh mơ ấy một cây lạ mọc lên. Cây nhanh chóng lớn nhanh và cho ra một thứ quả xù xì đầy gai nhưng bên trong lại ngát hương. Múi quả ngọt đến lạ lùng với vị ngầy ngậy thơm ngon. Mọi người đã đặt tên cho cây là "Sầu riêng". Trái sầu riêng có một đặc tính lạ khi chín thì tự rụng và chỉ rụng vào đêm. Cây sầu riêng cao tới 20 mét và cho ra mùa quả từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm. 

Đã mười năm nay Lễ hội trái cây ở Lái Thiêu được tổ chức quảng bá cho những sản phẩm đặc sắc của địa phương. Dân quanh vùng từ Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bình Phước và TP Hồ Chí Minh đổ về với sự kỳ thú bên dòng sông Lái Thiêu. Nhà thơ Dương Kỳ Anh đã bày tỏ cảm xúc với cây vườn hoa trái rộn ràng nơi đây qua những vần thơ: "Ôi giá được suốt đời vẫn trẻ/ Vẫn non tơ như mắt lá trên cành/ Qua bao gian lao đất nước mình lại gặp/ Người với người giao cảm với mầu xanh" (Ghi ở vườn xanh Lái Thiêu). Niềm vui thật đúng là xanh mướt bao la. Câu hò trên sông Lái Thiêu luôn vang lên trên đường xa vạn lý rằng: "Ghe anh nhỏ mũi trái lườn/ Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em/ Cùng em ăn trái sầu riêng/ Ăn rồi cảm thấy một niềm vui chung".

Trước hoa xin nâng chén

Vùng đất Lái Thiêu kênh rạch chằng chịt một thuở mê hồn. Xưa nữa nơi đây hoang vu với rừng cây um tùm và lắm thú dữ. Đây là một ngã ba sông Sài Gòn và Lái Thiêu gắn bó với câu ca: "Nhà Bè nước chảy chia hai/ Ai về Gia Định- Đồng Nai thì về". Kênh rạch sông nước nơi đây gắn liền với hình ảnh: "Muỗi kêu như sáo thổi" hay "Dưới sông sấu nổi, trên rừng cọp um".

Trải qua hàng thế kỷ, Lái Thiêu giờ đây được ví von đúng như hình ảnh cô gái mỹ miều tươi tắn bên sông Sài Gòn. Miền đất thơm hương vị cây trái này gây ấn tượng cho bất cứ du khách nào đi qua. Người dân không ai không nhớ tới công ơn của Thành hoàng làng Huỳnh Công Nhẫn. Ngài là vị thần khai hoang vùng đất này.

Bởi từ xa xưa khi mọi người đều lo lắng: "Đến đây xứ sở lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh". Vậy mà ông Huỳnh Công Nhẫn đã đánh hổ giữ làng và trồng cây làm thuốc cứu sống những phận đời nghèo khó. Đến nay vườn nhà nào cũng có phần đất dành cho việc trồng những cây thuốc như tía tô, diếp cá, rau má, lá đề như lời dậy của ngài. Ngôi chùa Thiên Phước hiện nay tại trung tâm phường Lái Thiêu (TP Thuận An-Bình Dương) là nơi thờ ngài.

5-bến cảng gốm.jpg -0
Bến cảng gốm.

Đặc biệt, khi khai khẩn đất đai ông Huỳnh Công Nhẫn còn tìm ra mỏ đất sét và cao lanh nơi đây để dựng đền thờ và làm đồ dùng gia dụng. Những nhóm thợ gốm người Hoa đã tìm đến đây định cư. Họ coi những mỏ đất như kho vàng của xứ sở này. Nghề gốm phát triển hàng trăm năm lan tỏa khắp tỉnh Bình Dương tạo nên một phong cách riêng biệt.

Chợ gốm Lái Thiêu thuận tiện bến sông, cảng thị thu hút thương hồ tới buôn bán. Gốm từ các lò quanh vùng như Biên Hòa và Sài Gòn cũng hội tụ về bến thương cảng Bà Lụa ở Lái Thiêu. Từ đây hàng gốm đi tới Lục tỉnh và sang cả Lào, Miên và Indonesia. Thương hồ đến bến cảng Bà Lụa không ai không nhớ đến câu hò: "Chiều chiều mượn ngựa ông Đô/ Mượn ba chú lính đưa cô tôi về/ Đưa về chợ Thủ bán hủ, bán ve/ Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu". Nghĩa là đồ gốm ở đây có đủ loại hàng với những hoa văn và men gốm độc đáo.

Hơn nữa dòng sông Lái Thiêu đẹp và dịu dàng luôn sáng bừng ngọn lửa về câu chuyện một thương lái dừng chân nơi đây. Ông còn là một nghệ nhân làm gốm. Hàng ngày ông cùng thợ nung gốm rồi chở đi bán các vùng quê. Một lần ông say mê vẽ hoa trên bình rượu cùng với con gà vươn cổ gọi bình minh. Vừa uống rượu, ông vừa bùi ngùi nhớ người phương xa. Nét vẽ của thương lái đẫm nước mắt tha hương trong đêm vắng.

Ngọn lửa lò nung phần phật đợi củi khô. Cơn buồn ngủ kéo đến thế là ông nằm vùi bên cửa lò. Vò rượu đổ lênh láng tràn khắp sàn nhà lá. Ngọn lửa bén rượu bùng lên cùng những tiếng nổ chát chúa. Lửa quán lá thiêu cháy lão thương lái trong giấc mộng ngàn năm. Lão chết với nụ cười khi vừa vẽ xong bông hoa mẫu đơn đỏ thắm. Vùng đất cổ này được dân quanh vùng đặt tên Lái Thiêu để tưởng nhớ người thương lái xấu số này. Chính vì thế câu ngạn ngữ được khắc trên bình rượu: "Gặp nhau đã khó. Xa nhau càng khó" luôn làm mọi người lưu luyến khó rời mỗi khi tới đây.

Những vần cổ thi trên gốm

Gốm Lái Thiêu khác biệt với gốm Nam bộ ở họa tiết con gà và sắc hoa mẫu đơn. Gà vẽ trên đĩa, trên bát, trên bình hoa. Hoa mẫu đơn cùng cúc, trúc, lan vẽ trên thạp, trên lu… Đồ thờ thì chạm rồng phượng được phủ men nhiều màu rực rỡ. Đặc điểm nhất là những họa tiết được khắc nét chìm làm nổi bật hình và màu trên mặt gốm. Điều hứng thú hơn nữa là nhiều nghệ nhân từ gốc người Minh Hương cổ đã khắc những bài thơ vịnh bốn mùa và những triết lý nhân sinh trên gốm.

Tâm sự tha hương được bày tỏ: "Biên cương bặt tin tức/ Hết đông rồi lại xuân/ Gần nhà càng thêm sợ/ Không dám hỏi người thân" (Mùa xuân nhớ nhà). Hoặc có chiếc bình hoa cách đây hơn trăm năm khắc thư pháp: "Biêng biếc màu xanh một bến xuân/ Tháp son cầu đá vẫn y nguyên/ Mỗi năm lại tiễn người hành viễn/ Mưa nhỏ thùy dương muốn níu thuyền" (Tiễn người thân). Đó là những tâm sự mang đậm yếu tố đường thi tạo nên đặc trưng của gốm Lái Thiêu. Giới thương hồ mỗi khi đến thu gom hàng đều thuộc nằm lòng nét thư họa trên bình như: "Xuân chơi miền cỏ thơm/ Mục đồng về ca hát". Có người vừa uống vừa rớt nước mắt khi rời bến Bà Lụa, miệng vẫn còn ngâm nga: "Nay trước hoa nâng chén/ Nguyện lòng say mấy chung" (trích trong bài "Ngắm hoa uống rượu").

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).