Những điệp khúc vu cáo, kích động
Vẫn điệp khúc quen thuộc, các đối tượng sử dụng những cụm từ mang tính kích động như “luật bịt miệng dân”, “khống chế tiếng nói người dân trên không gian mạng”, “siết chặt tự do ngôn luận”, “kiểm soát Internet”, “xâm phạm quyền riêng tư”, “luật ban hành, dân câm nín”… nhằm gây hoang mang dư luận, nhất là đối với những người ít có điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin chính thống.
Các luận điệu xuyên tạc về Luật An ninh mạng thường được xây dựng theo một số kịch bản như: Cố tình đánh đồng, quy kết việc quản lý không gian mạng bằng pháp luật với việc cấm đoán, “bịt miệng” người dân; thổi phồng các quy định của luật, suy diễn rằng mọi hoạt động trên mạng đều bị theo dõi, kiểm soát, khống chế người dân; viện dẫn khái niệm nhân quyền, dân chủ, tự do Internet một cách phiến diện để quy kết Việt Nam đi ngược xu thế dân chủ, ra luật “bịt miệng dân”. Điểm chung của các luận điệu này là bỏ qua hoặc cố tình làm sai lệch bản chất của Luật An ninh mạng và các văn bản hướng dẫn, đồng thời che giấu thực tế rằng hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có các quy định chặt chẽ về bảo đảm an ninh mạng và chủ quyền số.
Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng kiểm tra công tác lấy ý kiến cộng đồng về điều chỉnh cục bộ quy hoạch khu vực Hồ Gươm và phụ cận.
Luận điệu xuyên tạc Luật An ninh mạng không xuất phát từ sự quan tâm đến quyền lợi của người dân mà mang động cơ chính trị rõ ràng. Mục tiêu sâu xa của các thế lực thù địch là làm người dân mất tin vào Đảng, Nhà nước; bôi nhọ thể chế, tạo ra các trạng thái đối nghịch để hướng lái người dân tin về “nền dân chủ tư bản”, cho rằng chỉ có tư bản mới đảm bảo quyền tự do dân chủ cả trên thực tế và không gian mạng, từ đó từng bước gây mất ổn định về tư tưởng, tiến tới thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Bằng cách gieo rắc sự bức xúc, kích động tâm lý đối lập giữa Đảng, Nhà nước và người dân, các thế lực thù địch tạo ra sự chia rẽ, mâu thuẫn trong xã hội. Đây là thủ đoạn quen thuộc nhưng ngày càng tinh vi hơn khi được thực hiện thông qua các phương tiện công nghệ tiên tiến.
Xuyên tạc Luật An ninh mạng, họ cố tình bỏ qua những nguy cơ hiện hữu trên không gian mạng như lừa đảo công nghệ cao, tin giả, tội phạm mạng và các hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng triệu người dân. Thủ đoạn thường được các đối tượng chống phá sử dụng là cố tình đồng nhất giữa quản lý nhà nước với việc hạn chế quyền tự do của công dân. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định rõ quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin và quyền được bảo vệ đời tư của mỗi công dân. Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định việc thực hiện các quyền này phải bảo đảm không xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Luật An ninh mạng chính là công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền đó trước sự tấn công của tội phạm mạng, hành vi lừa đảo, đánh cắp dữ liệu, vu khống, xúc phạm danh dự nhân phẩm và các hoạt động vi phạm pháp luật khác trên môi trường số.
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng đang trở thành mặt trận mới trong chiến lược chống phá của các thế lực thù địch. Với đặc điểm lan truyền nhanh, phạm vi rộng, khó kiểm soát, mạng xã hội bị lợi dụng để phát tán thông tin sai sự thật, kích động tư tưởng chống đối, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Luật An ninh mạng được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp, bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Luật không cấm người dân sử dụng Internet, không hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí theo quy định của pháp luật.
Lợi dụng những vấn đề nóng để xuyên tạc
Theo quy định của luật, người dân được quyền bày tỏ ý kiến, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, góp ý xây dựng đất nước trên không gian mạng. Hoàn toàn không có chuyện “bịt miệng dân”, “dân không dám lên tiếng”, “dân chủ chỉ còn hình thức khi sợi dây an ninh mạng siết chặt”…
Đặc biệt, trong thời gian qua, khi Hà Nội công bố những đề án quy hoạch mới với tầm nhìn dài hạn, tác động lớn đến đời sống, sinh kế người dân và cảnh quan đô thị như Đồ án Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng và Phương án điều chỉnh quy hoạch khu vực hồ Hoàn Kiếm, các thế lực xấu tập trung đả kích.
Chúng quy kết rằng, Hà Nội tung ra các bản quy hoạch “bỏ mặc dân”, chỉ vì “lợi ích nhóm”, vu cáo người dân không được quyền lên tiếng về các đồ án quy hoạch, không được nêu ý kiến dù họ trong diện phải di dời, giải phóng mặt bằng. Chúng lấy cớ việc Luật An ninh mạng có hiệu lực từ 1/7/2026 là thời điểm “kiểm soát dân”, không cho dân nêu ý kiến nhằm chính quyền dễ bề thực thi các động thái phá dỡ nhà dân, xây lại “theo ý thích”…
Xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ, mạng máy tính, viễn thông xâm phạm an ninh, trật tự trên không gian mạng.
Thực tế, việc lấy ý kiến nhân dân với hai đồ án quy hoạch trên được thực hiện rộng rãi, bài bản. Cùng với đó, người dân cũng thể hiện quan điểm, chính kiến của mình trên mạng xã hội, các diễn đàn, hội nhóm. Sở Xây dựng Hà Nội ban hành Kế hoạch số 176/KH-SXD lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức và người dân về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5.000, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở nhằm tạo sự thống nhất, đồng thuận trong quá trình triển khai quy hoạch. Việc lấy ý kiến được thực hiện trên cơ sở chấp thuận của UBND TP Hà Nội, căn cứ các quy định của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, Luật Thủ đô và các văn bản pháp luật có liên quan.
Không chỉ góp ý bằng các hình thức trên, theo dõi mạng xã hội chúng ta thấy rõ người dân rất quan tâm và đã thể hiện quan điểm, chính kiến của mình một cách sôi nổi, sinh động trên các hội, nhóm, diễn đàn mạng xã hội, nhất là trên các trang Facebook cá nhân. Nhiều người có các bài viết chuyên sâu, thể hiện tư duy, sự trăn trở với những dự án, đề án lớn của Hà Nội, từ đó có các đề xuất, kiến nghị với cơ quan chức năng.
Những quan điểm, ý kiến đó là rất chính đáng, là kênh hữu ích để chúng ta lắng nghe được đầy đủ, chân thực, sinh động nhất về tâm tư, nguyện vọng của người dân, là cơ sở để các nhà hoạch định, chỉnh trang, tái thiết đô thị đưa ra những điều chỉnh, bổ sung hợp lý. Tuy nhiên, cùng với những ý kiến tâm huyết, chính đáng, ý kiến mang tính chất góp ý xây dựng thì cũng có không ít người bị phân tán tư tưởng, bị kích động bởi các quan điểm lệch lạc mà đưa ra những phát ngôn thiếu chuẩn mực, những đánh giá mang tính cực đoan, phê phán thiếu căn cứ, tạo “mồi lửa” để các thế lực xấu lợi dụng chống phá.
Nền tảng để xây dựng một không gian mạng an toàn
Việc Luật An ninh mạng và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 được ban hành được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ hơn, vừa bảo đảm an ninh mạng, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Một trong những thay đổi đáng chú ý của Luật An ninh mạng là thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về an ninh mạng và an toàn thông tin mạng. Luật cũng thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy phòng thủ sang chủ động và tự chủ. Thay vì chỉ xử lý khi sự cố xảy ra, các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp được đặt trong yêu cầu chủ động phòng ngừa, phát hiện và vô hiệu hóa nguy cơ từ sớm, từ xa. Đáng chú ý, “an ninh dữ liệu” lần đầu được ghi nhận như một khái niệm pháp lý độc lập, phản ánh cách tiếp cận mới khi dữ liệu không chỉ được xem là đối tượng cần bảo vệ mà còn là nguồn lực chiến lược cần được quản lý và khai thác hiệu quả.
Luật An ninh mạng năm 2025 bổ sung, cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm trong bối cảnh công nghệ mới phát triển nhanh. Đáng chú ý, luật nghiêm cấm sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo trái pháp luật video, hình ảnh, giọng nói của người khác. Quy định này tạo thêm cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi lợi dụng công nghệ deepfake nhằm giả mạo danh tính, lừa đảo, vu khống, tống tiền hoặc xâm phạm danh dự, nhân phẩm. Trong thực tế, các sản phẩm hình ảnh, âm thanh và video do AI tạo ra ngày càng khó phân biệt với nội dung thật. Việc luật hóa hành vi giả mạo bằng công nghệ mới vì vậy được xem là bước đi đáng chú ý nhằm tăng khả năng phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hình thức lạm dụng công nghệ.
Một thay đổi lớn khác nằm ở cơ chế bảo vệ an ninh mạng theo cấp độ đối với hệ thống thông tin. Cách tiếp cận này dựa trên mức độ rủi ro và tầm quan trọng của từng hệ thống, từ đó xác định yêu cầu bảo vệ tương ứng thay vì áp dụng một mô hình chung cho tất cả. Luật tăng trách nhiệm của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng, mạng viễn thông, internet và dịch vụ gia tăng tại Việt Nam. Các nghĩa vụ pháp lý được áp dụng đối với cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ tại Việt Nam.
Theo đó, doanh nghiệp có trách nhiệm góp phần bảo đảm môi trường mạng an toàn, ngăn chặn thông tin vi phạm và phối hợp xác minh, điều tra, xử lý các hành vi xâm phạm an ninh mạng. Luật quy định thời hạn xử lý cụ thể. Doanh nghiệp phải ngăn chặn, chia sẻ, xóa bỏ thông tin hoặc gỡ bỏ dịch vụ, ứng dụng có nội dung vi phạm chậm nhất 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của lực lượng chuyên trách. Trong trường hợp khẩn cấp có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, thời hạn này được rút xuống không quá 6 giờ.
Việc lần đầu xác định rõ an ninh dữ liệu là một bộ phận quan trọng của bảo vệ an ninh mạng cũng kéo theo yêu cầu cao hơn về phòng ngừa rủi ro, bảo vệ dữ liệu và kiểm soát dòng chảy dữ liệu. Luật đồng thời tăng cường bảo vệ trẻ em trên không gian mạng và mở rộng phạm vi bảo vệ đối với người cao tuổi, người gặp khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Ở chiều ngược lại, pháp luật mới cũng tạo dư địa cho phát triển công nghệ. Nhà nước khuyến khích nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực an ninh mạng; ưu tiên đầu tư hạ tầng, sản phẩm và dịch vụ an ninh mạng trong nước.
Để hướng dẫn thi hành luật, ngày 19/8/2026, Chính phủ đã ban hành 7 Nghị định quy định chi tiết về nhiều nội dung quan trọng. Với những quy định mới, Luật An ninh mạng năm 2025 và các nghị định hướng dẫn thi hành không chỉ đặt ra yêu cầu kiểm soát các nguy cơ trên môi trường số mà còn hướng tới một cách tiếp cận chủ động hơn trong bảo vệ dữ liệu, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và tăng trách nhiệm của các chủ thể tham gia không gian mạng. Đây được xem là nền tảng để Việt Nam xây dựng một không gian mạng an toàn, kỷ cương, văn minh, qua đó tạo thêm dư địa cho kinh tế số phát triển bền vững.