Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời mùa Thu năm 1945, trong bối cảnh hơn 90% dân số mù chữ, nạn đói hoành hành và đất nước đối mặt với muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định ba nhiệm vụ cấp bách: chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Tại cuộc họp Ủy ban Hành chính toàn quốc tháng 9/1945, Người căn dặn: "Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi".
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho tư duy phát triển xuyên suốt của Việt Nam: mọi chủ trương, chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống nhân dân.
Trải qua nhiều thập kỷ kháng chiến và tái thiết, mục tiêu này vẫn luôn được kiên trì theo đuổi, dù điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Chỉ đến khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng năm 1986, với việc chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam mới có điều kiện để biến mục tiêu xóa đói, giảm nghèo thành một chiến lược phát triển dài hạn, mở ra cơ hội thoát nghèo cho hàng chục triệu người dân.
Năm 1993, Việt Nam lần đầu ban hành chuẩn nghèo quốc gia, đánh dấu bước chuyển từ các chính sách hỗ trợ mang tính tình thế sang quản lý giảm nghèo bằng những tiêu chí thống nhất. Theo báo cáo tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa IX, tỷ lệ hộ nghèo khi đó lên tới 58,1%, trong khi thu nhập bình quân đầu người mới đạt 185 USD/năm. Chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp đơn chiều, dựa trên thu nhập quy đổi theo lương thực...
Từ đây, hệ thống chính sách giảm nghèo của Việt Nam từng bước được hoàn thiện theo hướng ngày càng toàn diện và hiệu quả. Giai đoạn 1993-2000 đặt nền móng cho các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo... Đặc biệt, Chương trình 135 ra đời năm 1998 đã tập trung đầu tư hạ tầng thiết yếu cho các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa; giúp, tỷ lệ nghèo của Việt Nam giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 37,4% vào năm 1998.
Thập niên đầu của thế kỷ 21 đánh dấu bước chuyển từ hỗ trợ đơn thuần cho người dân sang phát triển đồng bộ các điều kiện sống. Bên cạnh việc cải thiện thu nhập, các chính sách của Chính phủ bắt đầu mở rộng sang giáo dục, y tế, nước sạch và nhà ở.
Chương trình 134, Nghị quyết 30a về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo đã tạo cú hích quan trọng, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 20,7% vào năm 2010. Việt Nam cũng hoàn thành trước thời hạn bảy năm Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên Hợp Quốc về xóa đói, giảm nghèo.
Một bước ngoặt khác xuất hiện từ năm 2011-2020 khi Việt Nam thay đổi hoàn toàn về tư duy phát triển, chuyển từ giảm nghèo đơn chiều sang giảm nghèo đa chiều, hướng tới tính bền vững. Lúc này, chuẩn nghèo không còn chỉ đo bằng thu nhập mà còn tính đến khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Thống kê cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân từ 1-1,5% mỗi năm, đến năm 2020 còn khoảng 4,8%, trong khi thu nhập bình quân của hộ nghèo tăng gấp 2,3 lần so với năm 2015.
Từ năm 2021, giảm nghèo tiếp tục được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển bao trùm. Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân.
Đặc biệt, từ ngày 1/1/2022 đến ngày 31/12/2025, Việt Nam áp dụng chuẩn nghèo đa chiều mới với ngưỡng thu nhập cao hơn và các tiêu chí đánh giá toàn diện hơn. Cùng với đó, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 cũng chuyển từ đầu tư theo diện rộng sang đầu tư theo chiều sâu, tập trung bảo đảm ba yêu cầu: đa chiều, bao trùm và bền vững.
Việc nâng chuẩn nghèo khiến tỷ lệ nghèo đa chiều năm 2022 tăng lên 7,52%. Song, việc chấp nhận con số cao hơn này thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc không chạy theo thành tích mà chủ động nâng chuẩn sống, mở rộng diện hỗ trợ để phản ánh đúng thực trạng và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện hơn. Từ mốc xuất phát đó, tỷ lệ nghèo đa chiều đã giảm còn 5,71% năm 2023, 4,06% năm 2024 và 2,95% năm 2025.
Điều làm nên khác biệt của Việt Nam không chỉ nằm ở tốc độ giảm nghèo, mà còn ở sự thay đổi trong tư duy phát triển. Nếu trước đây nghèo chủ yếu được xác định bằng thu nhập thì nay được nhìn nhận là sự thiếu hụt các điều kiện phát triển của con người. Với cách tiếp cận đó, Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở châu Á và thuộc nhóm 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng chuẩn nghèo đa chiều (MPI), đánh giá mức sống không chỉ qua thu nhập mà còn qua khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, nước sạch, vệ sinh và thông tin.
Sự thay đổi này phản ánh tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm. Một người có thể đã vượt ngưỡng thu nhập nhưng vẫn đối mặt với nguy cơ tái nghèo nếu thiếu cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, việc làm ổn định hoặc tiếp cận thông tin. Bởi vậy, mục tiêu của chính sách giảm nghèo không chỉ là nâng cao thu nhập mà còn tạo dựng những điều kiện để mỗi người dân phát triển toàn diện.
Đó cũng là tinh thần được Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định khi đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển, coi an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là giải pháp phát huy năng lực nội sinh, nâng cao khả năng thích ứng và tạo điều kiện để mỗi người dân vươn lên bằng chính sức mình.
Ảnh:UNDP
Những thành tựu đó không chỉ làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội của Việt Nam mà còn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định những tiến bộ của Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua là "gần như không có tiền lệ", đồng thời cho biết Việt Nam là một trong những quốc gia giảm nghèo nhanh nhất và ấn tượng nhất trong lịch sử hiện đại.
Theo WB, GDP thực tế bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng gần bảy lần, từ dưới 700 USD năm 1986 lên gần 4.500 USD vào năm 2023, trong khi tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc tế (3,65 USD/ngày) giảm từ 14% năm 2010 xuống dưới 4% vào năm 2023.
Trong khi đó, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã nhiều lần xếp Việt Nam vào nhóm có Chỉ số Phát triển Con người (HDI) cao và ghi nhận Việt Nam là "tấm gương về chính sách nhân văn và hiệu quả trong phát triển bao trùm".
Trưởng Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam Ramla Khalidi từng khẳng định: "Thành công này không đến từ một chương trình đơn lẻ hay một giải pháp tức thời nào. Đây thực sự là kết quả của cách tiếp cận toàn diện, có hệ thống từ phía Chính phủ - một cách tiếp cận đặt con người làm trung tâm của giải pháp phát triển".
Những đánh giá khách quan từ các tổ chức quốc tế cũng là lời phản bác thuyết phục trước các luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Trong khi một số tổ chức và cá nhân cố tình tách rời quyền dân sự, chính trị khỏi các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa để đưa ra những nhận định phiến diện, thì thực tiễn giảm nghèo với những kết quả được kiểm chứng đã cho thấy một thực tế khác: quyền con người không chỉ được khẳng định trong các văn bản pháp luật mà còn được hiện thực hóa bằng những chính sách cụ thể, bằng sự cải thiện từng ngày trong đời sống của hàng triệu người dân.
Những kết quả đó không đến từ một chương trình đơn lẻ mà được tạo nên bởi quá trình đầu tư lâu dài, đồng bộ về nguồn lực và chính sách. Từ các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ sinh kế đến hệ thống an sinh xã hội và các chương trình dành cho nhóm yếu thế, Việt Nam từng bước hình thành một mạng lưới bảo đảm an sinh ngày càng toàn diện, tạo điều kiện để người dân chủ động vươn lên thoát nghèo bền vững.
Và đó cũng chính là minh chứng thuyết phục cho một mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm - nơi tăng trưởng kinh tế luôn gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và cam kết không để ai bị bỏ lại phía sau.