(Ba đoản khúc về “Trăng vỡ”, tập truyện, ký của Đinh Sỹ Minh, NXB Hội Nhà văn, 2021)

Ký ức lương thiện

“Tôi nghĩ nhiều đến ký ức. Ký ức không phải là những cuốn phim như người ta thường ví von. (....). Còn với tôi, nó là một dòng chảy” (Đinh Sỹ Minh – Cô giáo ảo).

1.Đọc “Trăng vỡ” (truyện và ký) của Đinh Sỹ Minh đã khiến tôi thay đổi ý nghĩ khi trước đây chỉ xem “ông” này là người của thơ, tác giả ba tập thơ “Thăm thẳm bóng làng”, “Nhốt đam mê”, “Phồn sinh” (“Là thi sỹ, nghĩa là ru với gió/Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây”) sang một cảm thức khác – đây là cây bút văn xuôi có duyên thực sự.

Ở quê tôi, một cô gái có nhan sắc, tính tình đậm đà thì người ta gọi là có duyên, ít khi được gọi là đẹp. Trong sự làm thơ, viết văn cũng thế. Không phải ai cũng có “thơ duyên” (như nhan đề một bài thơ của thi sỹ Xuân Diệu). Tập “Trăng vỡ” có hai truyện ngắn (“Trộm”, “Trăng vỡ”), còn lại là ký (hay là tạp/ tùy văn, gọi thế nào cũng được). Là người cùng quê (Đức Thọ, Hà Tĩnh), nhưng quả thực tôi và Đinh Sỹ Minh ít có cơ hội giao lưu so với những người khác trong làng văn mà anh hay “la cà” (như Vương Tâm, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Quốc Hán, Vương Cường, Trần Quang Quý...).

Tôi nhớ, lần đầu gặp và quen Đinh Sỹ Minh cách đây dăm năm, nhìn đã biết đây là “tay” có máu giang hồ lữ thứ, ưa xê dịch, gàn gàn và trực tính (có thể hay “nổ”). Trông bề ngoài thì lúc nào cũng như thể đang tung tăng, thích chém gió, nhưng gần và đọc cả văn, cả thơ mới biết “tay” này cũng ghê lắm. Anh ta có một lối suy nghiệm đời sống, theo cách diễn đạt của nhà văn Ngô Thảo, là hay hướng tới “dĩ vãng phía trước”. Nên đọc “Trăng vỡ” (phần tạp/ tùy văn), thấy hao hao “ký ức vụn” của Bọ Lập nức tiếng một thời (nay vẫn cứ còn nức tiếng). Đinh Sỹ Minh khi viết có vẻ như “nhớ đâu viết đấy”, thích viết “chuyện bao đồng”, có vẻ như không làm chủ ngòi bút cứ để cho nó tự do phóng túng, phóng khoáng. Nhưng nhìn kỹ thì hóa ra đó là “dòng chảy của ký ức” như anh từng diễn đạt.

Trước lúc nói về mảng tạp (tùy) văn của Đinh Sỹ Minh, tôi muốn dừng lại lâu hơn ở hai truyện ngắn duy nhất trong tập. “Trộm” là một truyện có tính luận đề (có tính chất phản đề). Trong trường hợp này, như câu chuyện được kể, thì tên “trộm” là một người (chú bé) tốt bụng. Trộm hai quả trứng gà để đem đến biếu cô giáo dạy văn bị ốm. Thật là tình ngay lý gian. Nhưng nghệ thuật có thể (có quyền) hóa giải (minh oan) trường hợp này. Cuối cùng thì hai quả trứng gà mất công trộm bị vỡ khi chạy tránh máy bay địch, cô giáo không nhận được món quà hy hữu đó của học trò. Còn học trò thì: “Cậu đi vào giấc mơ, cậu đang mơ về cô giáo của cậu, về một nàng tiên và một bát cơm trắng có con cá trích bắc ngang miệng đọi”. Truyện này dẫu sao cũng vẫn còn dấu vết của công thức đánh giá “tốt - xấu”.

Đến “Trăng vỡ”, thì tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy tác giả viết theo “thi pháp chân thành”, đã đành, hơn thế ngón nghề (kỹ thuật truyện ngắn), không thể nói là không cao tay. Hai nhân vật, một là Hùng - cậu trai đang độ xuân xanh, là sinh viên đại học; hai là chị Hà - gái có chồng (đã hy sinh năm 1975). Một góa phụ thời chiến và một cậu trai thời bình gặp gỡ nhau trong éo le, chẳng pháp luật nào cấm đoán nhưng có rào cản của những thứ vô hình. Những gì được coi là “bản năng gốc” của con người được Đinh Sỹ Minh viết khéo tay. Con người không phải là gỗ đá, nhưng con người là một động vật cao cấp có tư tưởng. Hai con người cùng khát khao tình yêu và nếu họ trao nhau cũng hoàn toàn xứng đáng, chính đáng.

Nhưng! Ai đó nói vì chữ “nhưng” lịch sử có thể còn thay đổi huống hồ một đời người. Cái kết thật đắng đót, ám ảnh khi chị Hà rơi vào trầm cảm, rồi hóa điên phải vào viện điều trị vì bệnh “hitxteria” (thiếu đàn ông, mất cân bằng tâm sinh lý).  Qua “Trộm” và “Trăng vỡ”, tôi thấy, Đinh Sỹ Minh rất tinh tường trong phát hiện và trình bày những “ca” tâm lý bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Tôi cứ nghĩ, nếu Đinh Sỹ Minh viết được vài ba “cái” như “Trăng vỡ”, thì có thể nói, đã thành một cây bút truyện ngắn chững chạc; đặc biệt có khả năng phát hiện những “tình huống truyện” khá độc đáo.

2. Phần tạp (tùy) văn mới lộ rõ “chân tướng” của Đinh Sỹ Minh trong viết văn xuôi. Con người năng động - đa đoan, đa sự, đa tình này - tôi có cảm tưởng, không bó tay và luôn muốn vượt thoát bất kỳ không gian nào bó buộc suy nghĩ, hành xử của riêng mình. Tôi có quen biết và đã từng viết về nữ nhà văn Tống Ngọc Hân nhưng khi đọc “Cô giáo ảo” lại thấy Đinh Sỹ Minh biến báo khôn lường. Đúng là thời đại 4.0 nên lối viết mới có cơ tung tẩy như thế.

“Mợ Vinh” (về nhà báo - nhà thơ Phạm Thùy Vinh, TBT Tạp chí Sông Lam, Hội LHVHNT Nghệ An) viết khéo đến nỗi không ai dám căn cứ vào câu chữ để chỉ một ly nói Đinh Sỹ Minh thuộc dạng “nịnh đầm”! Nhưng cũng không ai nắm tay được cả ngày. Cũng có lúc tôi thấy Đinh Sỹ Minh “hở sườn” khi tụng ca một vài “nhân” nào đó mà “y phục không xứng kỳ đức”. Nhưng đành lòng vậy cầm lòng vậy. Có người sẽ nói, khi đọc, tác giả không nhạy cảm. Tôi thì nghĩ, “văn mình vợ người”, như cổ nhân nói.

Trong số các tạp (tùy văn) tôi thích “Dượng tôi”, “Anh tôi”, “Vợ tôi”,  “Con gái ba”, “Hồn làng”, “Sài Gòn &M”  hơn cả. Cũng giản dị thôi vì trong những “cái” đó trội bật lên lối viết “duy tình” của Đinh Sỹ Minh. Có lúc xót xa, có lúc nuối tiếc, có lúc  hối hận, có lúc dằn vặt, có lúc muốn nổi loạn... Nhưng tựu trung đó là những ký ức lương thiện đã trở thành dĩ vãng phía trước. Riêng “Sài Gòn & M”, trong cách nghĩ nghề nghiệp của tôi, có thể “nống” lên thành một truyện vừa hay tiểu thuyết ngắn (chừng trên trăm trang).

Đã có cấu tứ, cốt truyện nhân vật, tình huống, sự kiện, chi tiết khác nào mâm cỗ đã dọn sẵn, cớ sao bỏ lỡ? Hay là, tôi nghĩ, cái “tạng” văn của Đinh Sỹ Minh nó mới chỉ vỡ ra được như thế hoặc quy định sự lựa chọn thể loại – viết cái gì đó ngăn ngắn. Tất nhiên không ai ngây thơ nghĩ chuyện ngắn và dài trong văn chương liên quan đến chất lượng nghệ thuật (quý hồ tinh bất quý hồ đa/ văn chương định tính không định lượng). Có thể coi đây là một gợi ý nghề nghiệp với Đinh Sỹ Minh.

3. “Văn chương là nghệ thuật ngôn từ” - đó là một tiên đề/định đề như trong toán học vậy. Đọc văn xuôi Đinh Sỹ Minh, tôi có cái cảm giác gặp một người khai thác khoáng sản có năng suất và sản lượng cao. Bao nhiêu thứ đào xới được anh chở về tất để tính chuyện sàng sẩy, tinh luyện sau này. Anh cần trước hết có vốn (bột) để gột “hồ”. Vốn thì rõ là nhiều, bột cũng chứa đầy bồ. Bây giờ là gột hồ. Đọc văn xuôi Đinh Sỹ Minh, tôi có cái cảm giác khi viết anh không cần tiết chế ngòi bút, cứ cho nó tự do tung hoành, kể cả khi đọc lại bản thảo lần cuối, anh cũng không “kiểm duyệt” hay “biên tập” chính những gì mình đã viết ra như nhiều người sáng tác khác.

Có người “mách” tôi rằng, Đinh Sỹ Minh là tay “hồn nhiên”, cả trong sống cũng như viết. Hồn nhiên thì tốt. Nhưng nếu vô tình hay cố ý “nhi nhiên” thì phải xem lại. Có bốn trích dẫn sau, ở đó sự hồn nhiên cần phải tu chỉnh: một, đoạn tố các nhân viên ngành Y tế trong “Con gái ba” (đó có thể là chuyện ở đời nhưng không phải chuyện văn chương); hai, ca ngợi: “Chiếc quần lụa đen thần thánh” trong truyện “Trăng vỡ”; ba, tự hạ thấp mình: “Tôi quen biết nhà thơ Phạm Thùy Vinh từ ngày đổ đốn thơ văn” trong “Mợ Vinh”; bốn, ca tụng: “Bộ quần áo xanh công nhân thần thánh” trong Gửi “Cụ Nghi” – Quán Chiêu Văn. Ai đó nói đó là lối viết “suồng sã”, đôi khi sát sàn sạt, trắng phớ mọi chuyện. Lại nữa, Đinh Sỹ Minh hay lạm dụng phương ngữ, đôi khi gây cản trở sự đọc và tiếp nhận của bạn đọc đại chúng. Vẻ đẹp của văn chương chính là vẻ đẹp của ngôn từ. Tại sao chúng ta lại không chau chuốt tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt?

Tôi cứ nghĩ, mình góp ý thẳng thắn quá có khi mất cả bạn bè văn chương. Nhưng “thuốc đắng dã tật sự thật mất lòng”. Ai cũng hiểu, mỗi người trong chúng ta, rất có thể, đều lớn lên sau những sai lầm đáng yêu như người đồng hương Đinh Sỹ Minh của tôi. Đúng thế chăng?! Không tin, Quý vị cứ trực diện đọc “Trăng vỡ”.

                                                                                                Hà Nội, tháng 8-2021

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).