Kiếm - những lớp mã huyền thoại!

Truyền thuyết Việt kể, buổi đầu Lê Lợi khởi nghĩa, lực yếu, quân ít nên nhiều lần thất bại. Đức Long Quân liền cho mượn gươm thần. Một ngư dân tên Thận thả lưới ba lần đều chỉ bắt được thanh sắt liền đem về cất đi. Lê Lợi đến thăm, thấy góc nhà sáng rực, bèn đến xem, thấy một lưỡi gươm khắc hai chữ “Thuận thiên”.

Một đêm khi qua khu rừng nọ, thấy ánh sáng lạ trên ngọn cây, Lê Lợi trèo lên bắt được một chuôi gươm nạm ngọc, đem về tra lưỡi gươm ở nhà Thận vào thì vừa khít. Từ đó nghĩa quân đánh đâu thắng đấy. Hết giặc, Lê Lợi lên ngôi vua lấy hiệu Lê Thái Tổ.

Ngày nọ vua ngồi thuyền rồng dạo chơi trên hồ Tả Vọng, bỗng rùa vàng nổi lên xin lại gươm. Về sau dân gian gọi là hồ Hoàn Kiếm tức hồ trả gươm. Cái “mã” lớn nhất của truyền thuyết là hai chữ “Thuận thiên”, “thiên” nghĩa là trời, cũng có nghĩa là dân. Như vậy việc lớn thành công, ngoài thuận lòng trời, còn phải thuận cả lòng người. Có giặc thì tổ tiên cho nhận gươm thần để cứu nước. Hết giặc thì con cháu trả lại gươm thần để lo chuyện làm ăn. Truyền thuyết cho thấy người Việt yêu nước, yêu hòa bình và nhân ái vô cùng.

image001.jpg -0
Một phần hình ảnh kiếm ngắn Núi Nưa (Việt Nam).

Còn là triết lý về mối tương giao người - vật. Người thường (Thận) chỉ thấy đó là thanh sắt. Nhưng người tài (Lê Lợi) lại nhận ra đó là lưỡi gươm. Vật (lưỡi gươm) thấy người tài (Lê Lợi) thì “sáng rực” lên. Ở đời vẫn thế. Người này “duyên” với vật/việc này mà không “duyên” với vật/việc kia. Cố ngẫm để mà “biết mình, biết người”. Lại thêm, phải biết đi tìm cơ hội ở nhiều không gian (dưới sông nước, trên rừng cây). Với người tài thì các cơ hội nhỏ gặp nhau sẽ tạo ra cơ hội lớn. Lê Lợi gặp lưỡi gươm, chuôi gươm hai lần khác nhau. Nhưng chỉ ông biết “hợp” (thống nhất) lại thành “báu vật”…!!!

Còn có nhiều lớp nghĩa khác nằm trong motip gươm thần này, tựu trung lại đó là biểu tượng thiêng, mà “thiêng” thì bao giờ cũng được phủ lớp sương huyền thoại, bí ẩn, mời gọi…

Nhưng vẫn có sự thật rất khó giải thích. Đó là “Thiên hạ đệ nhất kiếm” của Việt vương Câu Tiễn cách nay hơn 2.300 năm. Năm 1965, khai quật ngôi mộ trên núi Vọng (Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc) người ta sửng sốt với thanh kiếm cổ, khi rút khỏi bao, vẫn sáng, lưỡi kiếm sắc bén, không hề bị gỉ sét. Hai dòng chữ khắc trên thân kiếm “Việt vương Câu Tiễn tự tác dụng kiếm” vẫn nét như mới khắc. Theo giới nghiên cứu, lưỡi kiếm được làm chủ yếu từ đồng điếu, dài 56cm, rộng 4,6cm, chuôi cán khảm lưu ly, loại đá quý thời cổ đại. Việt vương Câu Tiễn nổi tiếng với tích “nếm mật nằm gai”, nằm ngủ trên gai, nếm vị đắng của mật để nhớ mãi nỗi nhục đầu hàng quân Ngô mà phục thù. Chắc thanh kiếm trên đã ít nhiều giúp Câu Tiễn thành công.

Thời Đường, bên nước Tàu, “kiếm pháp”, “kiếm thuật” được đưa vào chương trình học tập trong giới Nho sĩ. Ngày ấy kén rể quý, ngoài thử chữ nghĩa còn thêm cách xem ai múa gươm dưới trời mưa to mà áo quần vẫn không ướt. Lý Bạch học kiếm từ nhỏ, lại được bố mời thầy giỏi đúc kiếm, ba năm rèn một thanh kiếm báu đặt tên là “Nhật Nguyệt”. Năm 36 tuổi, Lý Bạch vừa là bạn, vừa là trò của Phỉ Dực - người được tôn là “thiên hạ đệ nhất kiếm”. Có thầy giỏi lại chăm chỉ tập luyện nên “kiếm pháp” Lý Bạch ngày càng điêu luyện, ảo diệu.

Theo sử sách, đương thời Lý Bạch rất nổi tiếng, được người đời khen một tay cầm bút làm thơ, một tay múa kiếm đều giỏi. Từ “mẫu gốc” này trong văn chương xuất hiện hình tượng người quân tử đeo gươm cưỡi ngựa biểu trưng cho ý chí “tang bồng”. Đi vào “Truyện Kiều” ở ta đã góp phần kiến tạo nên một Từ Hải: “Trông vời trời bể mênh mang/ Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”…

Nhưng nâng “kiếm học” thành “đạo” thì chỉ có ở Nhật Bản. Môn “Kiếm đạo” được gọi là “Kendo” (Ken = kiếm, do = đạo), hình thành dựa trên kỹ thuật truyền thống của kiếm sĩ Samurai cùng thanh kiếm Katana. Tương truyền Katana sinh ra trong lửa để trở thành biểu tượng của đức tin và uy quyền, để làm nên một “tinh thần Nhật Bản”. Rèn một thanh kiếm Katana “độc bản” (dài 60-80cm và nặng 1,1-1,3kg) là cực kỳ công phu, tốn kém, do vậy nó rất giá trị. Theo truyền thông, thanh kiếm tên Samurai Tachi (có từ thế kỷ XVI) được định giá tới cả nhiều triệu đôla Mỹ. Katana gắn liền với các võ sĩ Samurai, kiếm được đeo hướng mũi xuống dưới, sau thế kỷ XVI, kiếm được đeo mũi hướng lên trên.

image002.jpg -1
Kiếm của anh hùng El Cid (Tây Ban Nha).

Đất nước Tây Ban Nha tôn thờ người anh hùng El Cid (1043-1099) - một nhà quân sự tài giỏi, một nhà ngoại giao xuất chúng. Gắn liền với cuộc đời chinh chiến của El Cid là thanh kiếm Tizona huyền thoại, hiện trưng bày tại Viện bảo tàng Burgos (thành phố Burgos), được coi là một hiện vật lịch sử - văn hóa có giá trị lớn lao. Kiếm dài 103cm và nặng 1,1kg. Thân kiếm đề năm sản xuất (1002) và trích dẫn câu kinh cầu nguyện Đức Mẹ Maria.

Theo cách gọi phổ thông thì kiếm và gươm là một, hồ Gươm cũng là hồ Hoàn Kiếm. Thế giới gọi “kiếm Nhật”, lại cũng gọi “thanh gươm võ sĩ đạo”. Nhưng thực tế khác nhau, kiếm 2 lưỡi đối xứng (thiên về đâm), gươm một lưỡi (thiên về chặt, chém). Ngoài công dụng là vũ khí lạnh dùng trong chiến trận để sát thương đối phương, kiếm còn là biểu tượng quyền lực, danh dự, vị thế, văn hóa…

Năm 1961, dưới chân núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hóa) ngành khảo cổ khai quật được thanh kiếm quý, lưỡi hình lá tre, mỏng, hai lưỡi sắc, chắn tay hình sừng trâu. Cán là khối tượng tròn mang hình dáng một phụ nữ đầu đội khăn hình chóp giống búp sen, tai đeo đôi vòng to chấm vai, ngực và tay đeo vòng trang sức, hai tay chống nạnh đầy uy quyền mạnh mẽ. Thân mặc áo chẽn dài tay. Áo cánh xẻ ngực không cài khuy… Kiểu trang phục này nay vẫn thấy trong bóng dáng trang phục phụ nữ Mường… Chưa đủ căn cứ khoa học nhưng nhiều giả thiết nhận định tượng người phụ nữ chính là nguyên mẫu Bà Triệu. Đây là thanh kiếm Lệnh (biểu trưng Lệnh ban ra). Thực sự là báu vật, năm 2013, thanh kiếm được công nhận bảo vật quốc gia.

Gươm kiếm là biểu tượng cho ý chí, quyết tâm làm việc gì đó lớn lao, phi thường. Trong “Cáo bình Ngô” cụ Nguyễn Trãi có câu: “Gươm mài đá đá núi cũng mòn”. Trong “Cảm hoài”, Đặng Dung viết: “Quốc thù vị báo đầu tiên bạch/ Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma” (Thù nước chưa báo được, mà đầu thì đã bạc rồi/ Bao lần mang kiếm Long Tuyền ra mài dưới bóng trăng). “Long Tuyền” theo truyền thuyết Trung Hoa là một bảo kiếm. Âu Dã Tử - ông tổ nghề rèn kiếm một lần ngao du thấy mạch nước ở Long Tuyền (trên núi Tần Khê, tỉnh Triết Giang nay) có ánh sắc lạ. Đoán có quặng sắt quý liền cho xẻ núi tìm được một mảnh thiết anh (sắt tốt) rồi rèn thành kiếm Long Tuyền. Đem kiếm quý mài dưới trăng là cái ý ẩn nhẫn chờ thời. Câu thơ còn có bóng dáng triết lý của Tư Mã Ý thời “Tam quốc”: hai mươi năm mài gươm để một ngày dùng!

Kiếm còn dùng trong ma thuật, thờ cúng, trấn yểm… Ở Nhật Bản khai quật ngôi mộ cổ Tomio Maruyama (khoảng nửa sau thế kỷ IV) tìm được một chiếc gương và thanh kiếm dài hơn 2 mét, lưỡi uốn cong giống hình con rắn. Theo giới khảo cổ, thanh kiếm không thể dùng trong thực tế (vì quá dài) mà là một biểu tượng nghi lễ ma thuật liên quan đến tín ngưỡng thờ rắn cổ xưa. Chiếc gương có thể là vật để xua đuổi ma quỷ. Có lẽ đây là một trong những mạch nguồn, chảy về thời hiện tại tạo thành một nét “trấn yểm phong thủy” ở nhiều nước phương Đông. Chủ nhà treo thanh kiếm trong phòng khách ở vị trí thích hợp vừa tăng cường “vượng khí” vừa xua đuổi tà khí.

Ngày nay thế giới quen thuộc với biểu tượng Nữ thần công lý (Lady Justice, Justitia) của phương Tây, với thanh gươm biểu tượng cho sức mạnh cưỡng chế, quyền lực, thực thi công lý. Nhưng thanh gươm này vẫn còn trong vỏ, mũi chúi xuống đất. Kết hợp với hình ảnh “cán cân” có thể hiểu cái ý nghĩa công lý phải được xem xét, điềm tĩnh, thấu đáo, cẩn thận chứ không phải là để đe dọa, uy hiếp, trấn áp, tạo ra sự sợ hãi…

Ở châu Âu cuối thời trung đại, kiếm gắn liền với giới quý tộc và các hiệp sĩ. Để giải quyết mâu thuẫn theo tinh thần “thượng tôn công lý”, người ta tổ chức các trận đấu tay đôi với vũ khí thường là kiếm. Có sự sắp xếp và thỏa thuận trước, hai bên sẵn sàng lấy tính mạng của mình để “đảm bảo danh dự”. Sau này súng ngắn ra đời, “đấu tay đôi” thay kiếm bằng súng. Vì tính chất có phần “nguyên thủy” nên đến thời hiện đại, “đấu tay đôi” bị bỏ hẳn.

Là một biểu tượng thiêng nên ở thời hôm nay, kiếm vẫn mang tính tượng trưng cho quốc gia (sức mạnh quân sự), cho dòng họ (nổi tiếng về võ thuật, sự mạnh mẽ), cho ngành nghề (bảo vệ đất nước, công lý, trừng phạt cái ác…).

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).