Khương Thị Mến với mỹ cảm nữ tính trong thơ chiêm nghiệm

Trong số các cây bút trẻ xuất hiện trong mấy năm qua, Khương Thị Mến là một nhà thơ nữ đang hình thành một giọng thơ mới với 2 tập thơ được trao giải thưởng của Hội VHNT Hưng Yên, và mới nhất là chùm thơ được trao giải nhì cuộc thi "Thơ ca & Nguồn cội".

Qua tập thơ mới "Khúc dư hương mùa hạ" vừa in năm 2025, ta thấy rõ gương mặt thơ của Khương Thị Mến với mỹ cảm nữ tính trong hành trình tìm một ngôn ngữ thơ mới. Chị là một trong những tiếng nói nữ có phong cách mềm mại nhưng sắc lạnh, trữ tình mà giàu chiều sâu triết luận với khả năng tạo dựng hình tượng độc đáo cùng lối liên tưởng bất ngờ, yếu tố góp phần đưa ngôn ngữ thơ chị đến gần với tinh thần hiện đại và hậu hiện đại.

Nỗi buồn trong thơ nghiêng về phía suy tư chia sẻ

nhà tho khuong th%3f m%3fn.jpg -0
Nhà thơ Khương Thị Mến.

Trong các bài thơ khá độc đáo của Khương Thị Mến, bài “Tầm thi” là thơ của một cuộc truy vấn bản thể: "Rụng nỗi buồn nhập cuộc/ Tàn xuân/ Em tầm thi/ Ngày vỡ ra từ sự thật trần trụi/ Thời gian tuột qua kẽ tay/ Đáo hạn tôi/ Tôi vỡ ra từ mảnh ghép cộng sinh thềm đá cũ, thảm gió lùa/ dòng sông phiền muộn múi bão/  Thơ tôi nứt từ luống cày phơi ải/ trảng cỏ mùa xuân, khói chiều chân rạ/ loang lổ mảng trầm tơi tả vốc đêm/ Thơ tôi nhốt chặt bóng hình em / ngột ngạt chật chội như chục tỷ người trên thế giới/ con chữ vô ngôn trộn gối chăn bời bời bóng tối/ tranh gác mòn vò võ bậc thời gian/ Câu thơ em viết về anh/ một an trú trống không một niềm tin bỏ ngỏ/ bong bóng vỡ tan ngày mẹ lấy chồng xa xứ/ hoang vu kiếp người/ Câu thơ tôi nỗi buồn đóng đinh/ bản thảo lặng thinh, con chữ hiện sinh thỏa hiệp/ mùa xuân nhìn trời xanh qua lỗ thủng ngàn tia nắng / triệu kí tự ngộ nhận rơi/ Tôi trốn trong bồ thi ca đục trong cũng là nước mắt/ vật vã tìm lối cho riêng mình/ Bóng thi nhân đổ dài/ Dìu nhân loại đi nỗi đau và bóng tối".

Trong “Tầm thi”, hành trình làm thơ hiện lên như cuộc đi và đi mãi vào bên trong chính mình. Hình ảnh “rụng nỗi buồn nhập cuộc”, “ngày vỡ ra từ sự thật trần trụi”, “thời gian tuột qua kẽ tay” cho thấy nhà thơ tiếp cận thế giới bằng trạng thái mảnh vỡ như một đặc trưng của tư duy hậu hiện đại. Thơ không đến từ cảm xúc thuần túy mà là kết quả của một quá trình va đập giữa hiện thực và nội tâm. Cũng trong bài này, Khương Thị Mến nêu bật quan niệm thơ là nơi “nhốt chặt bóng hình em”, là nơi “câu thơ nỗi buồn đóng đinh”, là nơi bóng tối trở thành ánh sáng nội giới. Không chỉ mô tả, thơ chị còn suy tư về chính thơ như một tự ý thức hiếm gặp ở những cây bút trẻ.

Ở một bài thơ khác của Khương Thị Mến, "Thu Nguyệt hồ" là một bài thơ giàu sắc thái mùa thu và đậm nét phong vị quê hương: “Kìa bướm vàng/ Đừng rót tràn hương mật/ Ngạt vòm trời hoa sữa đương xoan/ Nguyệt Hồ thu!/ Chén trà thơm tóc liễu/ Giọt thơ anh óng ánh tơ vàng/ Cúc dịu dàng gánh mùa xuống phố/ Em đã thu còn tiếc nuối mùa ngâu/ Lời ru phù sa đỏ tựa sắc trầu/ Rụng xuống tay em lời buồn đá cuội/ Heo may đổ vào anh đêm trắng/ Sương bâng khuâng trằn trọc giấc sông Hồng/ Vọng cuối đường nghe lá gọi thu không/ Vàng miên man cả chiều thu mắc cạn/ Em mong manh khói sương Nguyệt Hồ/ Gió chân ngày tóc rối/ Vội bước thơ tôi cúc vàng chao chát cháy/ “Tàn cuộc chơi đá cuội lắng về nguồn”.

“Thu Nguyệt hồ” với những câu thơ dựng nên một không gian thu vừa ngọt, vừa ngạt, vừa mong manh. Tác giả có khả năng cảm nhận mùi hương thành một dòng chuyển động thị giác, tạo nên cảm giác “tràn”, “ngạt” rất riêng của mùa hoa sữa.

Bài thơ là một bức tranh thu lãng đãng, trong đó Nguyệt Hồ, một địa danh gắn với vẻ đẹp cổ kính, được hòa điệu cùng chất trữ tình. “Chén trà thơm tóc liễu”, “Giọt thơ anh óng ánh tơ vàng” cho thấy sự giao hòa giữa tình yêu, ký ức và mùa. Cúc gánh mùa xuống phố là cách nhân hóa độc đáo, lạ hóa mùa thu bằng sự dịu dàng nhưng không kém phần thảng thốt trước sự đổi mùa.

Đoạn thơ giữa đậm màu tâm trạng: “Lời ru phù sa đỏ tựa sắc trầu/ Rụng xuống tay em lời buồn đá cuội”. Hình ảnh sắc trầu, đá cuội vừa dân gian vừa sâu thẳm, gợi nỗi buồn thấm vào thời gian. Sương, phù sa, đêm trắng, sông Hồng nối tiếp nhau tạo nên dòng cảm xúc miên man dẫn người đọc vào miền ký ức rộng mở.

Đến đoạn cuối, thơ chuyển hẳn sang giọng hoài cảm tiếc một thời đắm đuối, tất cả hiện lên như những biểu tượng văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mùa thu không chỉ là thời khắc tự nhiên mà còn là mùa của ký ức, của nhan sắc, của những điều đã qua. Với “Thu Nguyệt hồ”, Khương Thị Mến tiếp tục khẳng định khả năng tạo hình tinh tế, ngôn ngữ nữ tính và giàu chất hoài niệm, đưa thơ về miền văn hóa với cảm xúc đậm tính Việt.

Từ lâu, sen đã là biểu tượng thiêng của văn hóa Á Đông, nhưng Khương Thị Mến đem đến một cái nhìn mới: “Ngắm thôi đừng hái/ Ngắm thôi đừng uống/ Ngắm mà không thể níu/ Giữa vô thường/ Trăm năm/ Ngàn năm/ Vạn năm/ Nở từ bùn/ Tịnh thơm từ bùn/ Vạn kiếp luân hồi/ Em và sen hồng như đốm lửa/ Ấm trong bùn và bất tử trong ta”. Có thể nói bài thơ "Sen” là mỹ học của sự vô thường và sự tinh khiết: "Trăng vằng vặc trên trời/ Trăng dưới đáy ao sóng sánh/ Gương mặt em như sen mùa hạ/ Thơm khi chạm vào/ Gương mặt em như sen mùa thu/ Đẹp úa tàn giã đám”.

Sen không chỉ đẹp trong khoảnh khắc nở, mà đẹp cả trong nhịp vô thường của đời sống. Gương mặt người con gái được ví như sen mùa hạ “thơm khi chạm vào”, và sen mùa thu “đẹp úa tàn giã đám”, cho thấy sự thấu suốt về vẻ đẹp vừa hiện hữu vừa mất mát.

Điệp khúc “ngắm thôi đừng hái, ngắm thôi đừng uống” thể hiện tinh thần nữ tính của người viết là một vẻ đẹp được giữ ở khoảng cách cần thiết để khỏi bị tổn thương, khỏi bị bẻ gãy bởi sự chiếm hữu của đời sống. Đặc biệt, đoạn cuối mang lại chiều sâu triết lý phương Đông với sen nở từ bùn, tỏa hương trong bùn, và “bất tử trong ta”. Tư tưởng luân hồi và thanh lọc tinh thần được diễn giải bằng ngôn ngữ hiện đại, nhẹ mà sâu.

Một giọng thơ nữ tính của thời hiện đại

Điều dễ nhận thấy nhất ở Khương Thị Mến là chất nữ tính trong thơ. Nhưng đó không phải sự mềm yếu, ngược lại, đó là sự nhạy cảm đã đi qua thử thách, một kiểu nữ tính biết đau mà vẫn cất lên giọng nói riêng.

Như trong bài thơ “Bóng” là cuộc đối thoại của tác giả với phần khuất của bản ngã: “Ngõ xuân. Trà sương điểm/ mưa cuộn tròn rét ngọt/ sự im lặng giấu làn hương đẹp quá/ Giấc trăng loang thềm nhà/ nhện giăng tơ/ bóng mờ liếp cửa/ Sờ bàn phím, kí tự nhảy múa/ buồn vui bóng chữ/ ta lẫn vào câu thơ đi lạc/ Bóng hắt vách tường/ khi có khi không, khi tròn khi méo/ giả thật lẫn lộn/ cái bóng tồn tại theo cách riêng của nó/ Ban mai ghé hiên nhà/ Chiếc bóng trốn đâu rồi/ Trong lặng im quen mà lạ/ một vô hình, vô ngã mà thôi/ Bóng trên đầu, bóng ở sau lưng/ Là ta mà không phải là ta”.

Thơ Khương Thị Mến mang chiều sâu tâm trạng và cảm thức hiện đại với nỗi buồn trong thơ không thở than mà chiêm nghiệm, tình yêu không ủy mị mà tỉnh táo, cái đẹp không phô bày mà lặng lẽ tỏa hương.

t%3fp tho khúc du huong mùa h%3f.jpg -1
Bìa tập thơ “Khúc dư hương mùa hạ” của Khương Thị Mến.

Các bài thơ của Khương Thị Mến là những lát cắt của cùng một tinh thần thi ca nữ tính, mềm mại nhưng bản lĩnh, trữ tình nhưng đầy triết tính, hiện đại và đôi lúc vượt qua ranh giới để chạm đến hậu hiện đại với các hình tượng độc đáo, giàu liên tưởng trong ngôn ngữ thơ mới mẻ, phá vỡ cấu trúc truyền thống.

Các bài thơ của chị đều chứa hình ảnh mộc, mà lạ, mỗi hình ảnh vừa có tính biểu tượng, vừa mang hơi thở của đời sống hàng ngày. Sự giao thoa giữa quen thuộc và bất ngờ tạo nên “độ lạ” là yếu tố quyết định làm nên phong cách riêng.

Ở bình diện ngôn ngữ, Khương Thị Mến sử dụng cấu trúc mở, nhịp thơ phi tuyến tính, độ ngắt phá mạnh. Đây là cách thơ Việt hiện đại đang tiến gần hơn với thế giới, nơi ngôn ngữ thơ không chỉ để biểu đạt mà còn là đối tượng thẩm mỹ tự trị. Chị không chỉ cho thấy một giọng thơ vững vàng mà còn phản ánh hành trình tìm kiếm ngôn ngữ của một người viết ý thức rõ về mỹ học và thời đại, đi vào thơ bằng trực giác nữ tính, bằng sự trải nghiệm nội tâm sâu sắc, và bằng ý thức đổi mới nghệ thuật.

Nét mềm mại hòa cùng triết tính giúp thơ chị đứng riêng, tạo một khoảng sáng đáng chú ý trong diện mạo thơ nữ đương đại. Ở Khương Thị Mến, nữ tính không chỉ là sự mềm mại mà còn là khả năng cảm, thấu, soi chiếu thế giới bằng một trực giác mẫn cảm và sâu sắc. Với những tìm tòi ấy, thơ Khương Thị Mến góp phần mở rộng biên độ của thơ Việt đương đại, đưa ngôn ngữ thơ đến những vùng đất mới, nơi nỗi buồn, cái đẹp và bản thể hòa vào nhau trong sự lặng im lung linh của thơ ca.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).