Khung cửi dệt nên văn hóa!

Từ quần áo là vỏ cây, da động vật chuyển sang vải vóc là một bước tiến bộ mang tính bước ngoặt của văn minh nhân loại. Ngoài chức năng bảo vệ cơ thể, quần áo mang chức năng thẩm mỹ. Người Việt có tục ngữ sâu sắc: “Quen sợ dạ, lạ sợ áo quần”. Không chỉ là hình thức bên ngoài, quần áo còn nói bao điều bên trong, về địa vị, thói quen, sở thích, tâm tính…

Cho đến nay, loài người vẫn là động vật duy nhất có tập quán che phủ bản thân bằng vải vóc. Theo nhiều nghiên cứu, vải vóc có từ năm 2500 trước Công nguyên, đầu tiên ở Trung Quốc rồi lan rộng ra toàn thế giới vào năm 1000 trước Công nguyên. Vào thời Ai Cập cổ đại, vải lanh được coi là một trong những loại vải quý giá nhất, làm quần áo, khăn mền, vải bọc, thậm chí là băng bó y tế.

image001.jpg -0
Tranh Ngưu Lang - Chức Nữ thời Nguyễn thế kỷ XVIII.

Người Trung Quốc phát minh ra kỹ thuật dệt lụa được coi là một trong những loại vải đẹp nhất và đắt nhất thế giới, được sử dụng để làm quần áo, trang phục hoàng gia, đồ nội thất, có thời còn là đơn vị tiền tệ. Người Ấn Độ phát minh ra kỹ thuật dệt bông rất sớm để tạo ra thứ vải bông Ấn Độ nổi tiếng với độ mềm mại, thoáng khí, được sử dụng để làm quần áo, khăn mền, vải bọc, đồ chơi...

Vào thế kỷ 12, nghề dệt vải lanh bắt đầu phát triển ở Bỉ. Đến thế kỷ 13, nghề dệt vải len bắt đầu phát triển ở Anh. Cách mạng Công nghiệp thế kỷ 18, 19 thay đổi hoàn toàn cách sản xuất vải. Máy móc và quy trình sản xuất công nghiệp làm cho việc sản xuất vải rất nhanh chóng. Vào năm 1733, John Kay phát minh ra máy kéo sợi, năng suất tăng lên 8 lần. Năm 1764, James Hargreaves phát minh máy kéo sợi đời mới (Water Frame), năng suất tăng lên 120 lần. Vào năm 1785, máy dệt khung cửi vận hành bằng sức nước thay thế dệt thủ công...

Vì công việc dệt gắn liền với đời sống con người nên hình tượng cái khung cửi có ở mọi nền văn hóa, có ở nhiều câu chuyện hay, thú vị, sâu đậm nhất trong văn học. Cả thế giới biết câu chuyện “Bộ quần áo mới của Hoàng đế” của H.C.Andersen (1805-1875) người Đan Mạch. Kể rằng vị Hoàng đế nọ rất thích mặc quần áo đẹp chưng diện. Có hai tên lừa đảo xưng thợ dệt nói biết dệt một thứ vải rất đẹp và quý giá chưa bao giờ có, nhưng với kẻ ngu xuẩn, vải sẽ trở nên vô hình.

Hoàng đế cho chúng rất nhiều tiền và cung cấp tơ lụa, khung dệt… Nhiều quan cận thần rồi cả Hoàng đế đến kiểm tra, vì không muốn mình bị coi là “ngu xuẩn” nên ai cũng khen vải dệt “vô cùng đẹp”. Đến khi Hoàng đế “mặc” ra phố, tất cả đều không muốn mình “ngu xuẩn” nên đồng thanh “Hoàng đế vạn tuế” và tấm tắc khen “bộ quần áo mới”…

Nhưng một đứa trẻ lên ba cười như nắc nẻ rồi hô toáng lên: “Hoàng đế cởi truồng!”. Thế là cả vương quốc ấy có mỗi một người nhìn ra sự thật... Một tiếng cười vui mà sâu cay, cười vào cả một xã hội dốt nát, mê muội, ảo giác, giả dối, lừa nhau, lừa cả mình… Lấy điểm tựa là cái khung cửi rồi dệt bằng ngôn từ tiếng cười tạo ra tấm vải câu chuyện hài hước lóng lánh màu sắc ý nghĩa mỉa mai. Cười vui mà thấm thía đau cho con người…

Người Nhật quý vải vóc cũng như quý chim hạc đến mức trong hệ thống truyền thuyết có motip chim hạc dệt vải. Xin dẫn truyện "Chim hạc báo ân", kể chàng Kinzo đem hết số tiền đã có chuộc chim hạc đang bị người khác bắt giữ, rồi thả chim đi. Ngày nọ, một cô gái xinh đẹp tìm đến xin làm vợ Kinzo. Vợ anh có tài dệt vải. Một hôm vợ nói sẽ dệt tấm vải đẹp nhất tặng chồng, nhưng trong lúc dệt chồng không được gặp. Thế là ngày ngày đêm đêm chỉ có âm thanh của khung cửi vang lên.

Tò mò, Kinzo nhìn vào phòng dệt, thấy con chim hạc nhổ từng chiếc lông trên thân mình dệt thành tấm vải vô cùng đẹp đẽ, tráng lệ… Thì ra người vợ chính là chim hạc anh đã cứu. Câu chuyện cho thấy một quan niệm nhân văn cao cả quý trọng con người hơn mọi tiền bạc; tình nghĩa vợ chồng thiêng liêng vô ngần, vì nhau mà sẵn sàng đem thân thể, thịt da mình để “sưởi ấm” cho nhau.

Truyền thuyết “Ngưu Lang - Chức Nữ” soi sáng cả bầu trời văn hóa phương Đông, chiếu đến vùng nào, chịu khúc xạ của tập quán, tính cách mà nhân vật ánh lên những ý nghĩa khác nhau. “Phiên bản” Việt Nam kể Ngưu Lang làm việc chăn trâu, Chức Nữ làm việc dệt vải. Yêu nhau nên cả hai bê trễ công việc, Ngọc Hoàng bèn phạt họ, bắt người đầu sông, kẻ cuối sông...

Truyện cổ tích “Tấm Cám” rõ bản sắc Việt hơn, có chi tiết kể lần tái sinh thứ hai, Tấm hóa thành cây xoan đào rất đẹp đến mức nhà vua thường mắc võng nằm nghỉ trưa. Mẹ con Cám bèn chặt cây làm khung cửi. Mỗi khi Cám ngồi vào dệt vải, khung cửi lại kêu: “Kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra…”. Điều này nói lên mấy ý: trước đây dân ta thường làm khung cửi bằng gỗ xoan đào (khác Ấn Độ, qua các câu chuyện cổ, khung cửi thường được làm bằng gỗ cây dương liễu hoặc mạch sồi). Dệt vải rất phổ biến ở cả nơi cao môn sang trọng (triều đình) và thường dân.

Những câu ca dao làm rõ hơn điều này: “Ai về Hoằng Hóa mà coi/ Chợ Quăng một tháng ba mươi phiên chiều/ Trai mỹ miều bút nghiên đèn sách/ Gái thanh tân chợ búa cửi canh/ Trai thì nhất bảng đề danh/ Gái thời dệt cửi vừa lanh vừa tài”. Cô gái trong câu sau đang ở độ “cập kê”, đã có “ong bay bướm lượn”: “Thẹn thùng đường cửi đi về/ Chân ngừng bàn đạp, tay e thoi chuyền”. Mẫu vợ chồng hạnh phúc ngày xưa là: “Em thời canh cửi trong nhà/ Nuôi anh đi học đăng khoa bảng vàng/ Trước là vinh hiển tổ đường/ Bõ công đèn sách, lưu phương đời đời”...

image003.jpg -1
Nghề thêu, dệt Ấn Độ.

Tả cảnh dệt cửi cụ thể, sinh động, chắc không ai vượt qua thiên tài Hồ Xuân Hương: “Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau/ Con còm ấp máy suốt đêm thâu/ Hai chân đạp xuống năng năng nhắc/ Một suốt đâm ngang thích thích mau/ Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả/ Ngắn dài khuôn khổ vẫn như nhau/ Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ/ Chờ đến ba thu mới dãi màu” (Dệt cửi đêm).

Xin giới thiệu tác phẩm dân gian "Bần nữ thán", ra đời khoảng thế kỷ XVIII, thời Nguyễn. Dài 216 câu theo thể song thất lục bát đi theo dòng tự tình tâm trạng, đúng như tên gọi, là lời ta thán của người con gái trách số phận vì nghèo túng, thiệt thòi không lấy được người chồng sang trọng như ý. Từng được dùng làm sách giáo khoa, được dịch sang tiếng Pháp (dịch giả Phạm Xuân Độ) in ở nhà xuất bản Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ thư xã) năm 1945.

Lời thơ khá hiện đại, trong sáng: “Ở ăn nề nếp sau xưa/ Dám sai phận gái mà thưa phép nhà/ Việc canh cửi, tay đưa chân dận/ Đường dệt thêu bướm lượn óng đôi/ So xem quốc sắc, nữ tài/ Đã trong gia huấn, lại ngoài nam phong”. Đến đầu thế kỷ XX, “chân quê” trong thơ Nguyễn Bính vẫn là “cảnh cũ người xưa”: “Em là con gái trong khung cửi/ Dệt lụa quanh năm với mẹ già” (Mưa xuân)…

Là dụng cụ dệt vải, khung cửi cổ truyền hình hộp chữ nhật với 4 cột trụ cùng các thanh gỗ ngang dọc tạo thành khung đóng vai trò giữ sợi mắc (sợi dọc) thật căng để luồn sợi mành (sợi ngang). Ngoài ra còn trục (thanh gỗ tròn ngang để cuốn vải); phưm (hình chữ nhật để chia đều các sợi vải dọc và dập chặt các sợi vải ngang); go (hai lá go được làm bằng hai thanh tre nhỏ). Bàn đạp (hai thanh gỗ để đạp chân); thanh ngáng sợi (thanh gỗ to để ngang giữa 2 làn sợi dọc để đưa thoi). Khung cửi làm bằng gỗ tốt, không nứt nẻ, nhẹ, chắc, bền.

Hầu hết các dân tộc ở nước ta đều có nghề dệt vải nhưng hôm nay, qua con đường du lịch, có tiếng vang với thế giới thì nghề dệt thổ cẩm của người Pà Thẻn (Hà Giang) được chú ý. Trên thực tế, các dự án bảo tồn nghề dệt này đang được triển khai góp phần tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn. Du khách ưa chuộng mảnh thổ cẩm được dệt từ những sợi tơ mỏng, chế tác từ cây cỏ tự nhiên. Từ dệt vải, thêu hoa, ghép vải… rồi kết thành bộ trang phục truyền thống, đồng bào mất cả năm trời.

Nước ta có nhiều làng nghề dệt nổi tiếng với “The La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng/ Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn” (ca dao). Có lịch sử truyền thống khoảng 1.200 năm, làng Vạn Phúc thờ vị tổ nghề - bà Ả Lã Đê Nương, cháu vua Hùng thứ 16. Hàng năm Giỗ Tổ nghề vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch. Lụa vân Vạn Phúc được khách nước ngoài rất ưa chuộng, có đặc điểm hoa văn nổi vân trên mặt lụa mượt, được làm từ tơ tằm tự nhiên, rất đẹp khi ra nắng, ấm vào mùa đông, mát vào mùa hè. Có một lý do khung dệt máy nhưng vẫn sử dụng con thoi truyền thống nên sản xuất nhanh mà chất lượng đảm bảo tốt. Xin mời bạn đến tham quan và mua thử vuông lụa vân!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).