Không giúp tôn cao thêm nền văn hóa dân tộc thì cũng đừng đào phá

Biết Nguyễn Hoàng Đức hơn mười năm nay, gặp gỡ, chuyện trò với nhau cũng khoảng mươi lần, trong các cuộc trò chuyện đó có người chưa quen với Nguyễn Hoàng Đức thì tức giận đứng dậy bỏ về, còn những người đã quen thì cười hề hề với những tranh luận “hết sức học thuật” của ông.

Trong các cuộc trò chuyện đó, một điều không thể thiếu là ông sẽ bằng mọi giá khẳng định mình là “triết gia số 1 Châu Á”. Thích thì cho, cũng chẳng ai cãi, bản thân người viết bài này đã đôi lần “tấn phong” cho Nguyễn Hoàng Đức cái mà ông đang muốn, thậm chí còn phong cho ông là “triết gia số 1 thế giới”, dù thú thật rằng tôi cũng không thể biết là nhà “triết gia số 1 Châu Á” Nguyễn Hoàng Đức có công trình gì và trong công trình đó ông đã đưa ra một hệ thống lý thuyết, chủ thuyết... gì.

Hay những “công trình” đó mới chỉ là những ý tưởng đang nằm trong đầu “triết gia số 1 Châu Á” mà thôi. Thật xấu hổ quá khi chưa thấy công trình, chưa đọc, chưa nghiên cứu chủ thuyết của ông mà lại dễ dãi đi “tấn phong” hàm hồ! Và tôi tin chắc rằng điều “xấu hổ” đó không phải ở riêng tôi mà còn có ở rất rất nhiều người đã vui vẻ “tấn phong” cho Nguyễn Hoàng Đức.

Những cuộc trò chuyện, những cuộc hội ngộ có Nguyễn Hoàng Đức và những gì ông nói thì chỉ có ai không bình thường mới tin đó là sự thật và tin theo. Chính vì thế, có thể nói nó vô hại, kể cả những khi Nguyễn Hoàng Đức chê bai nhà thơ này, nhà văn kia là “nhà văn mậu dịch”, nhà văn tranh tre nứa lá, nhà văn lìu tìu thôn xã gốc tre bụi chuối… nhưng nếu hỏi ông đã đọc họ chưa thì sẽ nhận được câu trả lời là: “Chưa đọc, cần gì đọc vì nhìn cây thì biết quả”.

Đấy, sự đánh giá người khác của Nguyễn Hoàng Đức là như thế. Nhưng cũng chả ai rỗi hơi mà đi trách ông. Nhưng gần đây thì sự việc nó đã khác sau một thời gian gần như là “múa gậy vườn hoang”, không ăn thua, Nguyễn Hoàng Đức đã đưa cả thơ lục bát và “Truyện Kiều” của cụ Nguyễn Du ra để nhạo báng và hạ thấp giá trị.

Viết đến đây tôi chợt nhớ đến những câu mở đầu thiên truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại.

Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết…”. Chí Phèo thì chửi tất và chửi cả người sinh ra mình, còn Nguyễn Hoàng Đức thì thách thức tất cả và thách thức tiền nhân.

Vâng, nếu chỉ mỗi Nguyễn Hoàng Đức thì chắc tôi cũng không bỏ công ra để viết bài này, vì tin chắc rằng, sau khi đọc được bài của tôi, Nguyễn Hoàng Đức sẽ có bài đáp lại và kéo theo đó sẽ có nhiều người hùa vào với ông như đã từng hùa vào trên trang facebook.com của ông. Chính vì thế bài này dù viết để trao đổi lại với Nguyễn Hoàng Đức nhưng mục đích chính là để dành cho những người đang bất chấp cả đúng sai, phải trái tìm mọi cách, mọi phương tiện dù hạ tiện nhất để “giải thiêng”, để phỉ báng lại chính văn hóa dân tộc mà cha ông, nguồn cội của mình đã dày công xây đắp nên.

Thực ra, những điều mà Nguyễn Hoàng Đức viết cũng không mới mẻ gì, đó là "Truyện Kiều lấy gốc từ “Kim Vân Kiều truyện” của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, người Trung Quốc", và ““Từ một cuộc hội thảo ở Trung Quốc đã được in trên báo Văn Nghệ khoảng năm 2000” đánh giá: "Về tất cả các mặt, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không thể hơn bản chính của Thanh Tâm Tài Nhân!

Mà truyện này cũng chỉ là thứ cấp huyện, ngang truyện hạng 3 của Tàu…" và "Nguyễn Du cũng vậy, dù khéo mấy cũng là dùng đồ thuổng về cấu trúc cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Hội nghị văn học của Trung Quốc là thứ hơn hẳn Việt Nam cả trăm lần, đã kết luận: Xét về mọi mặt, Truyện Kiều không thể nào hơn bản chính. Mà Kim Vân Kiều truyện cũng là thứ văn hạng ba xó xỉnh của Tàu, đáng kể gì mà so bì hơn với kém?”.

Nói không mới mẻ vì đây chính là luận điểm của Đổng Văn Thành người Trung Quốc được in trong hai cuốn “Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng” tập 4 (1986) và tập 5 (1987) trong đó có bài “So sánh “Truyện Kim Vân Kiều” giữa hai nước Trung Việt”. Đã không mới mẻ lại còn dẫn nguồn sai: “Từ một cuộc hội thảo ở Trung Quốc đã được in trên báo Văn Nghệ khoảng năm 2000”.

Người viết bài này đã cất công đi tìm tư liệu của cuộc hội thảo đó vào “khoảng năm 2000 trên báo Văn Nghệ” của Nguyễn Hoàng Đức nhưng tuyệt nhiên không thấy có một cuộc hội thảo nào như thế cả? Còn luận điểm mà Nguyễn Hoàng Đức phát lại không công cho ông Đổng Văn Thành người Trung Quốc thì đã bị các học giả Việt Nam bóc mẽ và phản bác lại từ lâu rồi, nhưng chắc vì Nguyễn Hoàng Đức đang bận đọc tiểu thuyết “Đônkihôtê – Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra” nên chưa kịp đọc những bài viết của các học giả trong nước? Về cơ bản, Đổng Văn Thành muốn chứng minh rằng “Truyện Kiều” không có gì hay cả, vì “Truyện Kiều” có gốc từ “Kim Vân Kiều truyện”, mà “Kim Vân Kiều truyện” là một cuốn sách hạng hai của Trung Quốc, suy ra “Truyện Kiều” cũng không hay, cũng chỉ là hạng hai.

Viết như thế quả thật là rất hồ đồ và không khoa học, vì khi muốn so sánh hơn kém thì điều đầu tiên phải so sánh cùng thể loại với nhau, trong khi đó “Kim Vân Kiều truyện” được Thanh Tâm Tài Nhân viết theo thể văn xuôi, còn “Truyện Kiều” theo thể thơ lục bát. Đó là điều vô lý thứ nhất, điều vô lý thứ hai là không thể nói rằng “Kim Vân Kiều truyện” là cuốn sách không hay nên “Truyện Kiều” cũng không hay được.

Chúng ta hãy đưa chính văn học của Trung Quốc ra để chứng minh cho luận điểm này. Trong “Tứ đại danh tác” của Trung Quốc là “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung; “Thủy hử” của Thi Nại Am; “Tây du ký” của Ngô Thừa Ân và “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần thì “Tam quốc diễn nghĩa” đã được La Quán Trung biên soạn từ câu chuyện “Tam quốc” đã lưu hành rộng rãi trong dân gian truyền miệng, các nghệ nhân kể chuyện, các nhà văn học nghệ thuật viết kịch, diễn kịch, đều không ngừng sáng tạo, làm cho những tình tiết câu chuyện và hình tượng các nhân vật phong phú thêm.

Từ đầu thời Nguyên, các câu chuyện “Tam quốc” đã được thu thập thành một cốt truyện hoàn chỉnh có đầu có cuối, gọi là “Tam quốc chí bình thoại”. Cuối đời Nguyên đầu đời Minh, nhà tiểu thuyết La Quán Trung đã viết bộ “Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa” chính là đã dựa trên cơ sở sáng tác tập thể rất hùng hậu đó của quần chúng.

Dĩ nhiên, trong khi viết ông có tham khảo những bản ghi chép của các nhà viết sử và các nhà văn khác, nhưng quan trọng hơn là phần thể nghiệm cuộc sống phong phú của bản thân ông và tài năng văn học kiệt xuất của ông nên đã để lại cho hậu thế một tác phẩm bất hủ. Nếu không có tài năng của La Quán Trung thì từ những truyện kể trong dân gian đó, làm sao có thể có được một tác phẩm bất hủ như những gì của “Tam quốc diễn nghĩa” ta đã, đang và sẽ tiếp tục đọc. Cuốn thứ hai là “Thủy Hử” đã được tác giả Thi Nại Am viết dựa theo sách “Đại Tống Tuyên Hòa di sự”.

Chắc chắn một điều rằng cuốn “Đại Tống Tuyên Hòa di sự” sẽ chẳng thể xếp được vào thứ bậc nào so với tác phẩm “Thủy Hử” cả. Từ một câu chuyện trong dân gian, bằng tài năng của nhà văn có thể sẽ cho ra đời một cuốn tiểu thuyết hay; từ những hạt cát im lìm trên bãi biển, có thể cho ra những chiếc bình pha lê quý giá; từ những viên gạch mộc sẽ cho ta những lâu đài…

Những điều dễ hiểu đến như vậy mà chẳng lẽ ngài Đổng Văn Thành không biết. Tôi tin là ngài biết nhưng ngài cố tình đánh lận con đen thì chuyện bao đời nay vẫn thế, cứ muốn ruộng lúa nhà mình tốt hơn ruộng lúa nhà người, và càng tức tối hơn khi nhà người mua chính giống lúa nhà mình mà sao ruộng lúa nhà người lại tốt hơn ruộng lúa nhà mình.

Nhưng khó hiểu hơn là trường hợp Nguyễn Hoàng Đức và những người đang cùng ông hùa vào để hạ bệ “Truyện Kiều”, rồi cố tình chứng minh thơ lục bát xuất xứ từ Trung Quốc với những luận điểm hết sức vu vơ. Vàng là vàng mà thau thì mãi vẫn là thau.

Về cái hay, cái đẹp và giá trị của “Truyện Kiều” thì đã được khẳng định từ lâu, từ trong nước cho đến quốc tế nên trong bài viết này, tôi không chứng minh thêm, chỉ mong rằng những ai không đủ tâm, đủ tầm, đủ tài để tôn cao thêm nền văn hóa dân tộc thì cũng đừng vì một lý do nào đó mà đi đào phá. Những việc làm ấy chỉ tốn công vô ích mà thôi.

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).