Không chỉ là “nghệ thuật băm thịt gà”!?

Năm 1940 tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố ra đời đã tạo ra một tiếng vang trong làng văn làng báo. Tất cả những việc được nói tới không mới, được tác giả ghi chép lại một cách, không thể nói có tính hệ thống nhưng có chủ ý đem đến cho người đọc những suy nghĩ mới về vấn đề đã cũ.

Đến nay “nghệ thuật băm thịt gà” vẫn còn tính thời sự về sự “chia chác”, nhất là ở những dự án, người ta chia nhau phần trăm hưởng lợi. Thế nên có khi việc đấu thầu chỉ là cái vỏ che mắt bề ngoài. Thời nay có hàng trăm ngàn “thằng Mới”, có thể không “điệu nghệ” trong việc “băm thịt gà” nhưng tài giỏi hơn nhiều trong việc “lách luật”...

Bìa cuốn “Việc Làng” của nhà văn Ngô Tất Tố.

Nhưng chúng tôi muốn bàn sâu hơn đến cái “lịch sử” của việc “chia phần” trong tập quán!

Từ đâu dẫn đến tập quán “chia phần”, mà ngày hôm nay nhiều nơi vẫn có tục đi ăn cỗ lấy phần. Có người bảo thế là văn hóa vì biết “chia sẻ” vật chất (miếng ăn) cho người thân. Có người lại chê thế là thiếu lịch sự. Thậm chí có địa phương còn ra “văn bản” khuyến cáo không nên “lấy phần”... 

Chưa bàn chuyện ấy hay dở thế nào, xin dẫn ra một câu tục ngữ: “Một miếng lộc Thánh còn hơn một gánh lộc trần”. Chữ “Thánh” ở đây nên được hiểu theo nguyên lý “tam giáo đồng nguyên”, vừa là Phật, vừa là Tiên, là Thành hoàng, là các bậc tiên tổ đã khuất. Ngày xưa có tục lên chùa cúng Phật rồi lại đem một ít đồ cúng về, gọi đấy là “lộc”. Có người không đem đồ cúng nhưng đi vãng cảnh chùa vẫn được chia “lộc”. 

Có câu: “Thờ Phật được ăn oản”, lại cũng có câu “Vào chùa được ăn oản” là vậy! Đến tận hôm nay người ta vẫn có tục “hái lộc” ở chùa. Tức trước lúc giao thừa vào chùa khấn Phật rồi ra vườn chùa “hái lộc” tức bẻ ngắt những nhành, nụ cây rồi về “xông nhà” đem “lộc” bày lên bàn thờ tổ tiên... 

Đã gọi là “lộc” thì không nhiều. Lễ Phật xong, (thường là) các “vãi” đếm người để “chia lộc” và để dành “lộc” cho những ai đó... Tập quán “ăn lộc”, “chia lộc” nhà chùa hắt bóng vào ngôn ngữ hiện đại kết tinh thành hai chữ “của chùa” rất đúng nghĩa cũng rất sâu cay. Để chỉ những kẻ khôn ranh thụ hưởng “miễn phí” vật chất lợi lộc công sản.

Gần gũi với tục ngữ trên là câu: “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, cũng nói về tục “chia phần”, “ăn phần”. Cũng được gọi là “lộc” nhưng gốc gác sự việc có khác. Bắt nguồn từ văn hóa “trọng xỉ” (kính trọng người có tuổi), “trọng danh”, “trọng chữ” mà những người già cả, những bậc chức sắc, những người đỗ đạt, những thày đồ... được ngồi “chiếu trên” hưởng (chia phần) những “miếng ngon” nhất, theo tập quán. Đấy cũng là cách khuyến khích việc học, ai học giỏi đỗ đạt làm quan, thì dù ít tuổi vẫn được ngồi mâm “các cụ”. 

Cũng Ngô Tất Tố trong “Lều chõng” tả rất sinh động hôm dán danh sách những người đỗ, có một thí sinh thấy tên mình sướng quá, phát cuồng nhảy cẫng lên mà hô: “Sỏ lợn về ai?”. Nghĩa là cậu ta từ nay, khi làng có “việc” sẽ được làng cho hưởng riêng (tùy nơi, tùy đỗ thứ mấy) hoặc ngồi mâm “các cụ” mà ăn “sỏ lợn”. “Sỏ lợn” này trước đó phải cúng “Thành hoàng” thành “lộc thánh” để dân làng “thụ lộc”. Nhưng “Lộc bất tận hưởng” nên ai ai cũng suy nghĩ “lấy lộc” về cho gia đình mình hưởng chung!

Tranh vẽ minh họa cảnh rước Thành hoàng làng!
Tranh vẽ minh họa cảnh rước Thành hoàng làng!

Thế nên việc ngày xưa ăn cỗ lấy phần (thường là xôi và thịt), trong bản chất là văn hóa, là tình nghĩa nhường nhịn sẻ chia đùm bọc. Ở ngày hôm nay, món ăn phong phú, đa dạng nên nếu lấy phần cũng phải ý tứ thật...!?

Một mặt trái của tập quán cộng đồng là chuyện “chè chén”. Người ta mong làng có “việc” từ chuyện tang ma hiểu hỉ đến chuyện “ăn khoán” (bắt vạ) để “đánh chén”. Bài ca dao này là một sự “miêu tả”: “Con cò chết rũ trên cây/ Cò con mở lịch xem ngày làm ma/ Cà cuống uống rượu la đà/ Chim ri ríu rít bò ra lấy phần/ Chào mào thì đánh trống quân/ Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao”. Hẳn là mượn chuyện chim chóc để nói chuyện người, chuyện làng xóm, xã hội. 

Bài ca dao chính là một “mô hình” của tập quán tang ma ngày xưa: dù chết đã lâu (chết rũ) nhưng vẫn phải đợi ngày “đẹp” (xem ngày làm ma); phải làm cỗ mời chức sắc, chức dịch uống rượu (cà cuống uống rượu la đà); phải có “phần” dành cho hàng xóm, dù họ xuất thân hèn mọn (chim ri ríu rít bò ra lấy phần); phải có kèn trống, như ở câu tục ngữ “Sống không đèn dầu, chết không kèn trống” (chào mào thì đánh trống quân); phải rao làng đến dự đám (đi rao)...Thành ra “đám hiếu” nhiều khi trở thành “đám hội”. Lại có câu “Ma chê cưới trách”, đám ma rất dễ bị “chê”: khóc không khéo; khăn áo không đúng tang phục...Và cả vì làm cỗ không đủ, mời không khắp...nên bị chê!!!

Quay trở lại cái tập “Việc làng” của cụ Tố!

Tập phóng sự dài 17 chương phơi bày những hủ tục lạc hậu ở nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ trở về trước. Đoạn trích “Nghệ thuật băm thịt gà” (chương IV) tả một cảnh “chia phần” ở một làng nọ. Ngô Tất Tố xứng đáng là nhà văn của thôn quê, đúng hơn, nhà văn của phong tục, tập quán: “Sao không lấy gì mà che, lại đi đội trời thế kia! Nước mưa ướt cả đồ lễ!”. 

Hai chữ “đồ lễ” cuối này rất quan trọng vì nó là cái “khóa mã” của tập quán tâm linh của làng. Nếu bỏ qua sẽ chỉ thấy người ta tập trung để “chia phần” và “nhận phần”. Không phải là người ta đội mưa đến ngôi nhà chật chội như vậy chỉ vì mấy “mảnh” thịt gà, mà cái chính đến để “hưởng lộc”, “thụ lộc”!

Đây là hình ảnh “mâm lộc”, tất nhiên sau khi cúng: “Một người vừa lù lù bưng mâm xôi gà lên thềm và đặt vào chiếc phản giữa. Rồi một người khác để luôn lên đó hai chai rượu lớn. Con gà cũng không nhỏ lắm, ước chừng một người ăn cố mới hết. Cỗ xôi vừa kín cái lòng mâm đồng, nó phải độ bốn đấu gạo! Còn hai chai rượu thì đầy ăm ắp, hạng chai ba phần tư lít”. 

Có “nhà phân tích” thích thú với hình tượng con gà “một người ăn cố mới hết” này rồi “phê phán” nạn chè chén xôi thịt ngày xưa “ăn” cả “gà con”!? Khổ quá! Không phải thế. Đồ lễ ngày xưa phải là gà trống chưa đạp mái. Lại là giống gà “ri” thì “to” như thế là rất đúng!

Thằng Mới đúng là một nghệ sỹ khi con gà như thế mà “phải làm hai mươi ba cỗ”. Hơn nữa “có năm cụ và bốn ông đàn anh. Vậy thì sỏ gà pha năm, phao gà pha bốn”. 

Phải là nghệ sỹ thực thụ nó mới làm chủ được động tác để tạo ra những “sản phẩm” thật sự này: “Nhưng mà hình như tay hắn đã có cỡ sẵn, cho nên con dao của hắn giơ lên, không nhát nào cao, không nhát nào thấp. Mười nhát như một, có khi chỉ lên khỏi mặt thớt độ khoảng một gang và cách cái ngón tay hắn độ vài ba phân. Tiếng dao công cốc đụng vào mặt thớt, nhịp nhàng như tiếng mõ của phường chèo, không lúc nào mau, cũng không có lúc nào thưa. Mỗi tiếng cốc là một miếng thịt gà băng ra. Miếng nào cũng như miếng ấy, đứt suốt từ xương đến da, không còn dính nhau mảy may. 

Trông những miếng thịt gà của hắn bốc ra góc mâm, mới đẹp làm sao! Không giập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay được mười thước. Băm xong con gà, hắn móc túi lấy một nắm tăm. Mỗi miếng thịt gà, hắn xâu cho một cái tăm vào giữa. Rồi hắn cắm vào mâm xôi. Cứ mỗi tảng xôi là bốn xâu thịt. Thịt vừa hết, xôi cũng vừa kháp. Té ra cái mình con gà, hắn đã băm được 92 miếng”.

Nhiều người nhìn đoạn trích theo kiểu “miếng ăn miếng nhục” rồi mỉa mai nạn chè chén ở nông thôn xưa. Đúng là có nhiều chuyện ấy thật. Qua trích đoạn này Ngô Tất Tố cũng có ý sâu cay mỉa mai cái tâm lý tiểu nông chỉ giỏi “đèm đẹp” ở những cái nhỏ, tiểu tiết, vụn vặt như thế. Cái ý phổ quát bật ra mà ông muốn nói là người tiểu nông phải vượt qua cái kiểu “nghệ sỹ” “băm thịt gà” chi li nhỏ bé như vậy để vươn tới “băm” cái lớn lao hoành tráng hơn!

Nhưng nhìn từ phía phong tục thì đấy lại là một khát vọng được no ấm, hạnh phúc. Vì hạt nhân của chuyện cầu cúng (“cầu” nghĩa là mong muốn) chính là khát vọng hạnh phúc. “Thụ lộc” từ “lễ” chính là một biểu hiện được hưởng thụ hạnh phúc (quả phúc). Thế nên “lộc” phải chính đáng (ai xứng thế nào được thế), phải đẹp và phải công bằng!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).