Nhân đọc tập thơ "Cháy trong mưa" của Nguyễn Đức Mậu, NXB Quân đội nhân dân, 2017

Khi tâm hồn như hoa phượng cháy trong mưa

Nguyễn Đức Mậu là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời đại chống Mỹ cứu nước, cũng là nhà thơ xuất sắc của khuynh hướng sử thi với các tác phẩm nổi tiếng như "Trường ca Sư đoàn", "Nấm mộ và cây trầm", "Mùa hoa đỏ"…

Từ sau năm 1986, trong công cuộc đổi mới của đất nước, thi sĩ của chúng ta đã "hạ sơn" về với cuộc sống bình thường (chiến tranh là cuộc sống không bình thường). Sự thay đổi khuynh hướng thơ từ sử thi về với đời thường là một sự đổi mới tất yếu của thơ, nhưng trong sự chuyển đổi đó, các nhà thơ lớp trước không phải ai cũng thành công… Nguyễn Đức Mậu đã đánh dấu sự thành công của mình với tập thơ "Cháy trong mưa".

Bài thơ mở đầu tập thơ là "Cánh ong vàng", tuy nói về quan niệm thơ nhưng tác giả không tư biện, không cao đàm khoát luận mà mượn hình ảnh đẹp của thiên nhiên "Cánh ong vàng" để nói. Cánh ong vàng hay chính là hồn thơ của nhà thơ không tìm tứ ở những "chồng sách mờ bụi phủ" hay "chùm hoa khô thời xưa"… để thành chú ong thợ với những "dòng thơ sáo mòn câu chữ chẳng lên hương" mà "giữa phố phường khét lẹt bụi xăng cay / Bay tìm lại mảnh vườn xưa xanh lá". Ở đó có "sợi tơ nắng, tơ trời óng ả… / Mỏ chim lành thêu dệt những đường khâu…".

Về với đời thường là về với "Không gian hẹp", "căn phòng 9 mét vuông có bốn người ở", "mùi nước mắm, mỡ, dầu, mùi son phấn, nước hoa…". Nhưng trong không gian hẹp ấy, cuộc sống bình thường vẫn trôi đi bình thường, ông già vẫn qua đường chậm chạp, ngôi chùa cổ vẫn buông chuông, con mèo vẫn nằm khoanh nắng nhưng "Thơ khao khát không gian mở / Trang giấy phập phồng muốn hóa cánh diều bay". Phập phồng và bay lên, đó là thơ hôm nay, trong không gian hẹp của đời thường.

Là nhà thơ - chiến sĩ, Nguyễn Đức Mậu không thể không đau đáu về những vấn đề của cuộc sống sau chiến tranh. Người phế binh còn sống sót sau một trận đánh, bị báo tử, nay mới về được nhà thì thấy ảnh mình trên bàn thờ và ảnh mình trên mộ phần. Ông ngồi trước mộ mẹ, mộ cha và hiểu rằng cha mẹ ông trước khi nhắm mắt chỉ mong được nằm cạnh mộ con mình, mặc dù đó là ngôi mộ không hài cốt. Bài thơ hàm chứa một tư tưởng lớn: Giá của cuộc chiến tranh qua nỗi đau lớn của người sống sót trở về.

Có những vấn đề hậu chiến không chỉ những người đã trực tiếp tham gia chiến đấu mới xót xa, nhức nhối. Bà mẹ sinh con trong chiến tranh thấy con mình lớn lên không có một nét gì giống mẹ, giống cha. Hóa ra đó là đứa trẻ con nhà khác, đưa lộn trong lúc chạy loạn. Vậy bao giờ gặp lại đứa con máu thịt của mình? "Nhiều sự thật như lưỡi dao nhói buốt / Nhiều sự thật mãi mãi ngủ yên không lời đáp / Nhiều sự thật cao hơn sự thật". Như những người cha, người mẹ thương đứa con khác máu như đứa con máu thịt của mình (ADN).

Chiến tranh đã kết thúc, người thôi chết vì đạn bom, nhưng nhiều dòng sông bị bức tử "Tiếng nấc dòng sông" - vấn nạn môi trường!

Khác với khuynh hướng thiên về tụng ca trước kia, huynh hướng mới của thơ nghiêng về trữ tình phê phán và thiên về cảm khái trước cuộc đời, cuộc đời hôm nay, cuộc đời muôn thuở, thơ nhìn vào hiện tại, ít hướng về tương lai và cũng không hẳn là hoài niệm quá khứ.

Nếu như trước kia, thơ ca ngợi tình bạn, "người với người sống để yêu nhau" thì bây giờ trong tình bạn có một thoáng hoài nghi. "Trong cuộc sống xô bồ thường nhật / Bạn tốt nhiều hay bạn tốt dần vơi / Bạn tốt chốn văn chương giả thật". "Bạn tốt như trầm thơm tận lõi… / Trầm thơm thầm vào ta, thấm mãi".

Tâm thế của chủ thể trữ tình không phải là dấn thân, tâm trạng của chủ thể trữ tình cũng không phải là suy tư hay tâm niệm về lý tưởng mà là tâm trạng của Lã Vọng ngồi câu: "Có người câu suốt ngày này sang ngày khác / Câu như là buồn lắm phải câu thôi / Chẳng cầu vận may, tìm nơi khuất lấp / Câu mơ hồ tiếng lá rụng, áng mây trôi".

Nói chung, tâm trạng của nhân vật trữ tình thiên về buồn hơn vui, âu cũng là hiện tượng thời thế, khác ngày xưa cảm xúc chủ đạo của thơ là vui, nếu có đôi lúc buồn thì "buồn ta không chảy thành đôi lệ hèn / Buồn ta ấy lửa đang nhen…".

Ngay cả khi nghĩ về những kỷ niệm thân thương cũng buồn vì những kỷ niệm thân thương đó một đi không trở lại, để lại niềm tiếc nuối (Mảnh vỡ). Anh trở thành "Người xa lạ" trên chính thành phố quê hương của mình. "Nghĩa trang cũ dời xa thành phố / Mộ ông bà đã chuyển về quê / Ngôi trường cũ không còn cây bàng già bão đổ / Bạn bè xưa trôi dạt mãi không về". 

Tuy nhiên, giữa muôn ngàn cái biến, tấm lòng thi nhân vẫn trân trọng quá khứ và mong mỏi cho hôm nay, cho ngày mai. Nỗi buồn cũng vì lẽ đó và đó là nỗi buồn mạnh mẽ, chắc chắn sẽ cháy lên như hoa phượng vẫn cháy trong mưa "Trong sấm rền, dày đặc mưa rơi / Nồng nhiệt màu hoa thắm vào tâm tưởng / Con tàu rời ga tiếng còi ướt đẫm / Cháy một trời hoa phượng cháy trong mưa". Màu hoa ấy là hồn thơ Nguyễn Đức Mậu và con tàu ấy là cuộc sống của chúng ta hôm nay, cuộc sống vẫn vận hành về phía trước dẫu trời vẫn mưa, mưa dài, mưa dày và không thiếu sấm chớp (Cháy trong mưa).

25/9/2017

Đặng Hiển

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).