Khát vọng Cường Bạo Đại vương

Với con người, sống có nghĩa là khát vọng, nơi nào, thời nào cũng vậy. Bị áp bức, bóc lột đủ điều bởi chế độ phong kiến, con người thời xưa đành gửi khát vọng vào những hình tượng mang tính huyền thoại. Thế nên ở thời văn minh hôm nay con người vẫn muốn đọc cổ tích, vì đó cũng là một cách nuôi dưỡng khát vọng. Ai ước mơ chinh phục tạo hóa, sẽ đọc "Cường Bạo Đại vương"…

Ngày xưa, có một chàng nông phu trẻ tuổi, nhà nghèo, bố mẹ mất sớm nên tính cách có phần ngang tàng, từ người đến thần, chẳng sợ một ai, tự xưng là Cường Bạo. Anh quen thân với Táo Quân. Bắt được cá ngon tôm béo đều mời Táo Quân cùng ăn. Những khi trời sắp bão lụt, hay xảy ra việc gì lạ, Táo Quân thường bảo cho bạn biết.

Được thể, Cường Bạo ngày càng kiêu căng, khinh thị mọi yêu ma, coi Trời bằng vung. Ngọc Hoàng tức giận bèn sai Thiên Lôi xuống trừng phạt. Táo Quân liền báo và bàn với Cường Bạo lấy rau mùng tơi giã ra lấy nước hòa với dầu vừng rồi đổ lên mái nhà…

cuong-bao-dai-vuong-513x440.jpg -0
Hình ảnh minh họa Cường Bạo Đại vương.

Đêm ấy Thiên Lôi cùng lâu la ầm ầm lao xuống, giẫm phải thứ nước trơn, ngã lăn xuống đất. Chỉ chờ có thế Cường Bạo nhảy ra cầm gậy vụt lấy vụt để. Thiên Lôi bị đòn đau, đánh rơi cả búa, cố nhỏm dậy rồi bay vụt về Trời. Ngọc Hoàng ra lệnh vua Thủy Tề phải trừ ngay kẻ ngỗ ngược. Vua Thủy giao việc cho Quận Rết. Đã biết trước, Cường Bạo đổ nồi nước sôi giết chết Quận Rết. Vua Thủy sai tiếp Quận Rắn, lại bị Cường Bạo đánh cho giập đầu. Vua Thủy phải nhờ đến Diêm vương. Diêm vương sai Quận Cú đi, cũng bị thất bại thảm hại…

Chưa bao giờ thấy sự lạ lùng như thế, Ngọc Hoàng ra lệnh Thủy Tề phải mau dâng nước thật cao để dìm quân nổi loạn xuống tận đáy biển. Khi nước dâng thì Cường Bạo đã ngồi trên một bè chuối, có thêm một cái trống, một cái chiêng. Lại mang theo một con gà trống. Nước dâng ngập hết làng mạc núi non, trên bè, Cường Bạo ung dung phất cờ gióng trống khua chiêng. Lại giục gà gáy lên từng hồi dõng dạc. Múa lưỡi búa lấy được của Thiên Lôi, Cường Bạo có ý một phen lên phá trời. Nghe tiếng chiêng trống vang lừng, tiếng hò hét, thấy nguy, Ngọc Hoàng phải ra lệnh rút nước.

Thắng được cả Trời, có phần hả dạ, chủ quan, Cường Bạo tự xưng là Cường Bạo Đại vương. Một lần ra thăm đồng, thấy con cua giương mắt, giơ càng dọa nạt, Cường Bạo coi thường lấy chân giẫm. Không ngờ càng cua xiên vào chân, vết thương loang ra, ít ngày sau, Cường Bạo lăn ra chết.

Khát vọng lớn nhất của cổ tích này là chinh phục tự nhiên. Cường Bạo có hình bóng của một Tôn Ngộ Không Tề thiên Đại thánh, từ dưới trần gian mà lên tận trời náo loạn thiên cung đến Ngọc Hoàng phải kiêng nể. Ngộ Không làm loạn cả Âm phủ, cung Thủy tề. Chẳng kém, Cường Bạo cũng khuất phục những tướng tài nhất của Diêm Vương và vua Thủy. Chưa lên đến Trời nhưng Cường Bạo đã làm Ngọc Hoàng sợ hãi. Thế là "vua" của các lực lượng tự nhiên làm hại con người chịu thua anh nông dân!

Ngày xưa, nhất là với cư dân nông nghiệp, trong bốn thứ giặc: "Thủy hỏa đạo tặc", thì "Nhất thủy, nhì hỏa". Thế nên Cường Bạo chiến thắng giặc "Thủy" là chiến thắng vẻ vang nhất, thỏa mãn nhất. Quá trình Cường Bạo "đấu tranh" với "giặc Thủy" có những chi tiết mang mã văn hóa gói trong đó quan niệm sâu xa của người xưa.

Là tướng nhà trời, trong tín ngưỡng dân gian Việt, Thiên Lôi được miêu tả như một vị thần hung dữ, mặt mũi đen đúa, nanh ác, thường mặc cái khố, lưng đeo trống, tay cầm lưỡi búa tầm sét. Dân gian có phần coi thường viên tướng này chỉ là tay sai (trong thành ngữ "Thiên Lôi chỉ đâu đánh đấy"). Trong thế giới cổ tích, Thiên Lôi là nhân vật lưỡng tính, vừa xấu, vừa tốt. Xấu ở chỗ gieo tai họa mưa gió và hay vô cớ đánh, doạ người. Nhưng cũng là biểu tượng của công lý. Thằng Lý Thông tàn ác nên bị Thiên Lôi cho một lưỡi tầm sét rồi hóa kiếp thành con bọ hung. Ở truyện "Cường Bạo Đại vương" Thiên Lôi thiên về tiêu cực nên khi hung hăng cầm búa xuống định "trừng phạt" mà bị đánh cho một trận nên thân! Thế là dù người trời, có vũ khí, có sức mạnh nhưng vẫn thua anh nhà quê Việt mưu trí, dũng cảm...

Hình ảnh Cường Bạo ngồi trên bè chuốt phất cờ gióng trống khua chiêng là bóng dáng của hình thức "trấn" giặc Thủy. Người xưa quan niệm lũ lụt do các loài thủy quái gây ra. Điều này thể hiện khá rõ trong truyện "Sơn Tinh - Thủy Tinh" của ta. Sống dưới nước, thuộc âm (tĩnh) nên kỵ với âm thanh (nhất là của kim khí) thuộc dương (động), do vậy khi thủy quái dâng nước nghe thấy tiếng chiêng trống thì sợ hãi mà rút. Gần gũi với quan niệm này là việc "trấn yểm" Thủy thần… bằng trâu sắt hoặc sư tử sắt.

Hiện ở Thương Châu, Hà Bắc (Trung Quốc) còn một con sư tử bằng sắt có tên Trấn Hải Hống được đúc vào khoảng năm 590 sau Công nguyên. Với trọng lượng lên tới 32 tấn, hình dáng uy nghiêm, có phần dữ tợn nhìn về phía biển, theo nhiều nghiên cứu thì rất có thể đây là linh vật để trấn áp sóng thần. Ngày xưa vùng Thương Châu nằm gần biển nên người dân rất vất vả chống chọi bão gió. Ngày nay ở nhiều vùng sát biển người ta vẫn tìm thấy nhiều trâu sắt có chức năng tương tự Trấn Hải Hống. Ở "Ngư tinh truyện" (trong “Lĩnh Nam chích quái”) của ta có chi tiết "Long Quân ném khối sắt nung đỏ vào miệng Ngư tinh", cũng là một hình thức "trấn yểm".

image003.png -1
Hình tượng "Thiên Lôi" trong văn hóa Nhật Bản.

Ngoài việc đúc trâu sắt, sư tử sắt người xưa còn tạc những con gà đá trong tư thế đang gáy. Vì quan niệm gà trống mang dương khí, gà gáy gọi mặt trời mọc, âm khí sẽ tiêu tan, vì vậy gà trống luôn được dùng để trừ quỷ, trừ âm. Thủy quái thuộc âm nên rất sợ gà trống. Với văn hóa Việt, đậm hơn trong tín ngưỡng thờ Mẫu…, thường có hình tượng con gà trống đứng uy nghiêm trước điện thờ biểu trưng cho tướng Nhà Trời. Lại có nhiều truyện kể, vì tội đánh lầm người lương thiện nên Thiên Lôi bị Trời bắt chịu phạt bằng cách nằm im ở một góc rừng để thỉnh thoảng gà trống đến mổ một cái thật đau. Đến khi thoát tội, Thiên Lôi còn giật mình sợ hãi khi nghe thấy tiếng gà. Thế nên nuôi gà trống là cách để tránh sét.

Những điều trên lý giải vì sao Cường Bạo lại dùng chiêng (âm thanh của kim khí) trống và tiếng gà gáy trên bè chuối…

Xét từ yếu tố duy vật thì chống lũ, nhất là trong việc đắp đê, hàn đê… bao giờ cũng cần tới nhiều người. Âm thanh chiêng trống là phương tiện tốt nhất (thời xưa) để báo động, tập hợp đội ngũ. Cũng đồng thời là thứ để cổ vũ, tăng cường nhuệ khí cho mọi người trước giặc lụt… Ngày xưa, ở các điếm canh đê thường treo mõ cá. Phải chăng cũng còn là cách "trấn yểm". Cá biểu trưng cho thủy quái. Gõ vào mõ vừa để tạo ra âm thanh, vừa để đuổi/trừng phạt thủy quái (cá)?!

Mô típ truyện "đánh thần sấm" hầu như đều có trong văn hóa châu Á, nhiều hơn ở vùng văn hóa lúa nước. So sánh với một vài quốc gia khác, truyện của ta có sự khác biệt. Trong khi ở nhiều nơi nhân vật đánh thần Sấm xuất thân quyền quý, tính cách nghiêm trang đạo mạo (được thiêng hóa) thì nhân vật (Cường Bạo) xuất thân nghèo khổ (mồ côi, nghèo), tính cách ngang tàng, chơi thân với Táo Quân (thần bếp), nhất là kế "đặc hữu" dùng nước rau mùng tơi đổ lên mái nhà. Hiện ở tỉnh Bắc Ninh (làng Thọ Đức, Tam Đa, Yên Phong) còn giữ tập quán thờ thần thành hoàng là Cường Bạo Đại vương.

Lễ cúng thần vào ngày 4/3 (âm lịch), trong đó phải có bát canh rau mùng tơi. Như vậy cả phong tục và trong truyện cổ, nhân vật được "giải thiêng" để gần gũi với đời thường, như đời thường. Ở một số nước, nhân vật được tả dùng "cuốc", "đao", "dao"… nhưng nhiều hơn cả là dùng "gậy" để đánh thần Sấm. Trong văn hóa Trung Quốc, Nhật Bản…, thì ngoài biểu tượng cho quyền uy, "gậy" còn biểu tượng cho sự "phân định ranh giới" (thường là trong không gian). Vị quan/thần nào đó được vua ban đất đai thì ông ta sẽ đứng trên ngọn núi, cầm gậy phóng ra xa, gậy cắm đến đâu, được hưởng đất đến đó. Như vậy, có thể hiểu "gậy" ở đây là hình thức sơ khai của "cột mốc biên giới/lãnh thổ"!?

Cái chết của Cường Bạo cũng khác biệt. Đánh thắng Thiên Lôi, dọa cả trời, thế mà cuối cùng chết bởi con cua bé tý. Táo Quân biết hết mọi điều trên giời dưới đất, nhưng không biết trước được cái chết của bạn thân. Phải chăng dân gian muốn đưa ra bài học: làm người phải biết giữ mình, phòng thân từ cái to đến cái nhỏ. Không được chủ quan bất cứ điều gì, nhất là những cái muốn "gây sự" với mình. Tránh đi là tốt nhất. Có "dị bản" còn nói rõ: cua chính là thủy quái được sai lên giết Cường Bạo. Thì ra mối thù truyền đời "thủy hỏa…", con người không được phép quên. Quên là sẽ có hậu quả!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).