Khát vọng Chu Thần Cao Bá Quát!

Bài học lớn nhất từ cuộc đời Cao Bá Quát (tự Chu Thần, quê Gia Lâm, Hà Nội) là bài học về ý chí, khát vọng, hoài bão vươn lên thực hiện lý tưởng vì dân, vì nước.

Là người nổi tiếng văn hay chữ tốt, học rộng, biết nhiều nhưng trở đi trở lại trong trước tác thơ Cao là hai chữ “dân đen”. Trong bài “Đối vũ”, nhà thơ thốt lên: “Mặt trời đỏ lẩn đi đằng nào?/ Để dân đen than thở mãi...”. Hình tượng “mặt trời đỏ” - biểu trưng cho khát vọng công lý, cho ước mơ cháy bỏng của nhân dân về một chính thể thương dân, yêu dân, vì dân. Nhưng khát vọng ấy đối lập hẳn với khí quyển chính trị phản động đương thời mà Cao cùng “dân đen” đang phải sống.

image001.jpg -0
Danh nhân Cao Bá Quát (1808 - 1855).

Khát vọng đứng trên và vượt khỏi tầm thời đại mình, Cao mâu thuẫn một cách gay gắt, triệt để, quyết liệt với thời đại ấy. Là nhà thơ của dân đen, bênh vực, thông cảm với dân đen, Cao mong muốn được vạch trần, phơi bày cái tàn bạo, thối nát của cường quyền. Nhưng trong con người Cao lại là một khối mâu thuẫn lớn. Là “con đẻ” của Nho học cũng là “con đẻ” của triều đình nên Cao hăm hở đi thi để làm quan với mong ước lấy tài năng giúp rập chính sự để dân đen đỡ khổ. Cũng vì một tình thương yêu lớn với dân nên Cao cứ dần dần trở thành một “nghịch tử” của chế độ phong kiến.

Bắt đầu là việc chữa bài thi, cũng là vì thương người và quý người tài mà chữa. Rõ ràng cái thương, cái quý ấy mạnh hơn rất nhiều bao nỗi sợ hãi và mạnh hơn cả cái chết. Vì chắc chắn Cao biết nếu sự việc lộ ra sẽ bị trả giá thảm khốc. Sau này thành lãnh tụ khởi nghĩa, xét đến cùng cũng là vì niềm yêu thương dân đen và căm thù cái ác, cái xấu mà cụ thể là cái triều chính phản động đáng ghét kia.

Một tài năng, một nhân cách, một ý chí lớn như Cao nên mâu thuẫn với thời đại là đương nhiên. Cao lãnh đạo nông dân nghèo khởi nghĩa chống lại triều đình như là một tất yếu. “Sông dài như kiếm dựng trời xanh” không chỉ là một câu thơ tỏ chí, còn là lý tưởng, là mơ ước và khát vọng, cũng là tuyên ngôn muốn “dựng” lại “trời xanh” thời đại. Còn toát lên một tuyên ngôn nghệ thuật văn thơ phải như kiếm sắc ngăn trừ cái xấu cái ác để cho đời chỉ còn những nụ hoa mai! Có lý tưởng thay trời đổi đất giúp dân lành nhưng chưa ở tầm vĩ nhân nên Cao không thể vượt thoát khỏi thời đại đang sống. Vượt lên trên tầm thời đại mình có chăng chỉ ba người kiệt xuất, trước đó là Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và sau này là Hồ Chí Minh.

Trước khi khởi nghĩa, Cao vẫn muốn làm quan nghĩa là vẫn muốn làm tôi tớ cho triều đình. Nhưng với khí phách ấy thì không thể làm kẻ nịnh hót cũng không thể thẳng tay quyết liệt vạch trần cái xấu xa của chế độ. Mâu thuẫn ấy giải thích vì sao tiếng cười của Cao không bật thoát ra ngoài mà cay đắng nén vào trong.

Cũng vì thế mà Cao cười mình nhiều nhất, tự cười mình, tự giễu mình. Vì mình có khát vọng lớn mà vẫn còn “thói đa tình”, như đã thể hiện trong bài thơ “Phục giản Phương Đình” (Lại đưa thơ cho Phương Đình): “Tự tiếu đa tình tiêu vị đắc/ Phù danh hoàn khước ngộ tri âm” (Tự cười chưa bỏ được thói đa tình/ Hai chữ phù danh còn làm nỗi hẹn tri âm).

“Thói đa tình” hiểu theo nghĩa rộng là những ham muốn lợi lộc công danh trần tục. Chưa dứt bỏ được hai chữ “phù danh”, Cao tự nhận mình vẫn còn là kẻ tầm thường, như trong bài thơ “Dữ gia nhân tác biệt…” (Từ biệt người nhà…) đánh giá bản thân chưa đạt đến độ “vong tình”, tức vẫn còn vương vấn với cái hư danh: “Vong tình tự tiếu ngã hà năng” (Tự cười mình chưa tới được bậc “vong tình”). Đi thuyền trên sông, Cao cười thấy mình chậm chạp như con thuyền quẩn gió.

Trong bài “Thập lục nhật yết đính Lữ Thuận, thứ Trần Ngộ Hiên” (Ngày 16, neo thuyền ở bến Lữ Thuận, họa thơ của Trần Ngộ Hiên), có câu: “Tiếu trì tương mộ ý/ Phi tả hướng đông lưu” (Mỉm cười muốn đem nông nỗi chậm chạp này/ Viết ra bày tỏ với dòng nước chảy về đông). Không “bày tỏ” được với người, đành “bày tỏ” với dòng nước chảy ra biển cả, Cao đã coi dòng nước và biển cả là nơi để tâm sự, giãi bày. Tứ thơ đặc sắc nâng gửi hồn thơ hòa vào thiên nhiên, vũ trụ.

Phải là người có bản lĩnh, phải biết nhiều, biết người biết ta, biết thời cuộc, biết xã hội mới tự trào được, vì tự trào là “phơi bày” ra cái đáng cười đáng chê của bản thân. Ở trường hợp Cao lại càng phải thận trọng, kín đáo vì cái án “văn tự” ở thời buổi ấy nhiều người đã mắc. Tự trào cũng là một cách “tỏ chí”. Dưới góc nhìn này, bài “Bệnh trung” là một trong những tác phẩm tiêu biểu: “Vị tử tàn hình nhất hủ nho/ Cưỡng chi quyện cốt thiến nhân phù/ Trắc thân thiên địa bi cô chưởng/ Hồi thủ yên tiêu khuất tráng đồ/ Hà nhật quy sầu đồng yến yến?/ Tha thời tập uyển quý ô ô/ Ái đồng bất thức Duy Ma bệnh/ Sát vấn yêu vi sấu tổn vô” (Là một hủ nho thân tàn mà chưa chết/ Cố gượng mang bộ xương mòn còn phải nhờ người nâng hộ/ Nép mình giữa khoảng trời đất, thương nỗi bàn tay cô đơn/ Ngoảnh nhìn con đường mây khói, chí cả chưa được vẫy vùng/ Biết bao giờ được trở về yên trong tổ như chim én/ Một ngày kia lại thẹn với đàn quạ xám đậu trong vườn tươi tốt/ Chú bé không hiểu cái bệnh Duy Ma của ta/ Cứ hỏi đai lưng có gầy đi nhiều không?).

Cao mơ được là con chim én trở về cái tổ ấm của mình. Căn cứ nội dung và xuất xứ, có thể bài này Cao làm khi ở Huế (Viện Hàn lâm), thời gian bệnh nhiều, cả thân bệnh và tâm bệnh mà tâm bệnh nhiều hơn. Bài thơ giản dị, chỉ khó hiểu ở câu “Một ngày kia lại thẹn với đàn quạ xám đậu trong vườn tươi tốt”. “Đàn quạ” biểu trưng cho kẻ xấu, cơ hội, tham lam. Tại sao lại thẹn với chúng? Đây là một ẩn dụ, có thể hiểu cả câu: một ngày kia (ta) lại thẹn với những kẻ cơ hội đang ở trong môi trường thuận lợi (vườn tươi tốt).

Thì ra Cao tự xấu hổ vì chưa thể hiện được ý chí hoài bão để rồi có ngày lại thẹn với chính những kẻ cơ hội đố kỵ, kèn cựa với mình. Cao đã nung nấu thật sâu sắc về thân phận kẻ sĩ, về trách nhiệm và bổn phận cá nhân. Cao đã mắc cái bệnh khó chữa vì thương chúng sinh như Duy Ma (nhà thơ Vương Duy nổi tiếng đời Đường ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo) nên người đời (chú bé) đâu có hiểu! Nhưng người đời sau thì thấy Cao vĩ đại ở khát vọng đem tài năng của mình phụng sự cuộc đời với mục đích đi tìm thái bình, ấm no cho dân lành.

image002.jpg -1
Đền thờ danh nhân Cao Bá Quát ở xã Phú Thị, Gia Lâm.

Ở bài thơ “Độc dạ” (Đêm ngồi một mình), Cao cười mình, thậm chí khinh mình vì mang tiếng là nhà Nho mà chẳng làm được gì “cho đời thái bình”: “Thái bình vô nhất lược/ Lộc lộc sỉ vi nho” (Không có cách gì làm cho đời thái bình/ Thẹn mình là nhà Nho lại tầm thường đến thế)… Thế nên dễ hiểu trong bài thơ “Đề sát viện Bùi Công Yên Đài anh ngữ khúc hậu” (Đề sau khúc Yên Đài anh ngữ của Đô sát họ Bùi), Cao phủ nhận mình, tiếc cho mình: “Ta ngã bế hộ điêu trùng, xỉ khẩu giảo văn tự/ Hữu như xích hoạch lượng thiên địa” (Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt rũa câu văn/ Lải nhải nhai lại từng câu từng chữ/ Khác nào con sâu đo muốn đo cả đất trời). Ví mình như con sâu, giễu mình chỉ biết nhai văn nhá chữ chẳng có gì ghê gớm mới mẻ, thế nhưng lại có tham vọng “muốn đo cả đất trời” quá lớn. Văn nhân thời hiện đại mấy ai dám tự nhận mình như thế!?

Cũng trong bài thơ trên, Cao đã thật sự hiện đại khi quan niệm cuộc đời cao hơn văn chương: “Tự tòng phiếm hải lịch Ba Sơn/ Thủy giác lục hợp hà mang mang/ Hướng tích văn chương đẳng nhi hý/ Thế gian thuỳ thị chân nam tử/ Uổng cá bình sinh độc thư sử” (Từ khi vượt bể qua đất Ba Sơn/ Mới cảm thấy vũ trụ là bao la/ Chuyện văn chương trước đấy thực là trò con trẻ/ Trong thế gian có ai thực là bậc tài/ Mà lại phí một đời đọc mấy pho sách cũ).

Nhưng cao hơn, ở đây còn thể hiện một quy luật nhận thức: phải trải nghiệm, đi nhiều, biết nhiều (từ khi vượt bể) mới thấy kiến thức là vô cùng (vũ trụ bao la), nhờ thế mới có nhận thức chuyện văn chương là trò trẻ con nên những bậc tài năng không mất thì giờ vào những điều đã cũ. Nghĩa là phải biết tìm tòi, sáng tạo để tìm cái mới. Quan niệm của Nam Cao sau này “Sống đã rồi hãy viết” không mới hơn Cao Bá Quát. Vĩ nhân thường đi trước thời đại là như thế chăng?

Ôm mối hận đi vào thiên cổ cùng bi kịch một tài năng không gặp thời, chắc hôm nay Cao cũng mỉm cười vì được người đời hiểu, ghi nhận, khẳng định.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).