Khắc phục tình trạng lai căng văn hóa trong ngôn ngữ

Bài học giáo dục đầu tiên chống lai căng ngôn ngữ là tăng cường tình yêu tiếng Việt "đẹp và rất giàu" trong mỗi bài giảng ở nhà trường. Phải làm rõ cho người học thấy tiếng ta đẹp, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm… ra sao. Có hiểu mới yêu. Có yêu mới trân trọng, quý mến...

Trong thời buổi toàn cầu hóa thì bất cứ một ngôn ngữ nào cũng có sự ảnh hưởng từ những ngôn ngữ khác tùy thuộc vào các tiếp biến văn hóa rộng hẹp của dân tộc đó. Ví dụ là một nước văn minh nhưng chỉ trong 20 năm hội nhập (1990-2010), trong vốn từ vựng tiếng Đức có tới hàng ngàn từ tiếng Anh du nhập.

Ở Pháp còn gây phản ứng mạnh đến nỗi phải có nghị quyết ở cấp cao nhất đưa ra biện pháp ngăn chặn sự "xâm lược" của tiếng Anh. Tất yếu là cũng có rất nhiều ngôn ngữ "đổ bộ" vào Anh ngữ từng ngày từng giờ…

Như vậy sự lai căng ngôn ngữ là bình thường, tất nhiên, có tích cực và hạn chế. Tích cực ở chỗ các khái niệm, nhất là khái niệm khoa học mang tính công cụ đã ổn định, chặt chẽ rất khó chuyển hết nghĩa sang bản ngữ thì giữ nguyên sẽ tiện lợi hơn, như "marketing" chẳng hạn (có trường đại học ở ta có khoa Marketing). Nhưng hạn chế cũng rất rõ, rõ nhất là làm mất vẻ đẹp, sự trong sáng của ngôn ngữ mẹ đẻ. Xin nói qua về sự bất cập này trong tiếng Việt.

Đã quen giao tiếp với khách quốc tế, một nhân viên bán vé máy bay nói với vị khách Việt: "Nếu có tình huống "delay" (hoãn chuyến) cháu sẽ "confirm" (xác nhận) vào giấy công tác cho bác". Ông khách chẳng hiểu gì. Hỏi lại thì phiền, có khi bị đánh giá "nhà quê", nên đành im lặng trong băn khoăn…

Ấy là chưa nói đến một bộ phận sinh viên trẻ, trong ngôn ngữ giao tiếp hay có sự pha trộn thái quá, với "essays" (tiểu luận), "difficult" (khó), "try again" (cố gắng làm lại), "complete" (hoàn thành), "send" (gửi), "contact" (liên lạc)… Tình trạng này nếu không khắc phục kịp thời sẽ tạo thành "thói quen ngôn ngữ" có hại, nhất là tư duy sẽ mất sự rõ ràng, chính xác, khó tường minh vấn đề khi diễn đạt, vì ngôn ngữ là phương tiện đắc lực nhất của tư duy. "Ngôn ngữ và tư duy như hai mặt của một tờ giấy" là vì vậy.

Giới trẻ bây giờ rất thích sử dụng ngôn ngữ lai tạp, làm mất dần đi sự trong sáng của tiếng Việt, để lại những hệ quả xấu. (Ảnh có tính chất minh họa - Nguồn Internet).
Giới trẻ bây giờ rất thích sử dụng ngôn ngữ lai tạp, làm mất dần đi sự trong sáng của tiếng Việt, để lại những hệ quả xấu. (Ảnh có tính chất minh họa - Nguồn Internet).

Hơn nữa, tiếng Việt với các đặc thù: Tính biểu trưng cao; tính cân xứng hài hòa; tính biểu cảm lớn; tính linh hoạt; tính khái quát; thường cấu trúc chủ động với nhiều động từ nên nếu lạm dụng tiếng Anh thường cấu trúc bị động nhiều danh từ, thì cấu trúc lời văn dễ bị phá vỡ làm phương hại đến sắc thái ý nghĩa.

Có nhà nghiên cứu gọi trường hợp này là "chấn thương ngôn ngữ". Không chỉ ở nước ta mà ở hầu hết các nước tiên tiến đều phải bàn đến giải pháp khắc phục, như ở Pháp, mỗi Bộ đều có bộ phận chuyên dịch các thuật ngữ chuyên ngành để làm sao khi sử dụng ngôn từ sẽ thuần Pháp nhất. Từ căn cứ trên, xin đề nghị bốn giải pháp sau.

Một là, phát động phong trào Học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ trong việc giữ gìn sự trong sáng, phát triển và làm giàu tiếng Việt. Chúng ta đã và đang làm tốt phong trào này ở các lĩnh vực xã hội khác, nhưng ở ngôn ngữ thì hình như chưa được mạnh mẽ. Bác Hồ có 30 năm sống ở nước ngoài, đi qua 54 nước, thông thạo 12 ngôn ngữ chính, thế mà vẫn dùng tiếng Việt một cách chuẩn mực, tinh tế, trong sáng, ngắn gọn, sinh động, dễ hiểu, đậm đà hương vị ca dao, dân ca, vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ.

Bác Hồ tránh vay mượn tiếng nước ngoài vô nguyên tắc: "Tiếng Việt của ta rất phong phú, ta phải làm giàu thêm cho tiếng của ta, nhưng không nên vay mượn lu bù để lòe thiên hạ". Nhưng khi cần Người vẫn dùng, như đi thăm Ấn Độ, Indonesia, Lào… trong các bài diễn văn có pha một vài từ, thường là khẩu hiệu hay cụm từ nói về tình đoàn kết hữu nghị anh em trong ngôn ngữ nước chủ nhà, để làm gần gũi hơn tình cảm bạn bè, phá bỏ khoảng cách các nghi thức ngoại giao, cùng nhau hòa trong không khí thân mật gắn nối và gắn kết thật chân tình… Bác đã mượn tiếng rất có chủ định vào mục đích ngoại giao văn hóa.

Đồng thời Bác Hồ rất có ý thức quảng bá tiếng Việt ra thế giới. Những năm đầu viết báo tiếng Pháp các danh từ chỉ người Việt đều được tác giả viết bằng chữ Việt. Trên báo "Le Paria" số 4 (1-7-1922), bản tiếng Pháp bài "Thù ghét chủng tộc" hai chữ "con gái" bằng tiếng Việt. Trên báo "L'Humanité" (17-8-1922), bài tiếng Pháp "Dưới sự bảo hộ của…", các chữ "nhà quê", "quan lớn", "lính lệ" viết bằng tiếng Việt. Trong truyện "Vi hành" chữ "dân" viết bằng tiếng Việt. Đặc biệt hai chữ "nhà quê" đều viết bằng tiếng Việt trong tất cả các văn bản tiếng Pháp. Dĩ nhiên mục đích chủ yếu là chính trị, nhưng từ góc độ ngôn từ cũng cho thấy biết bao sắc thái tình cảm trong cách dùng tiếng mẹ đẻ như vậy.

Trong truyện "Đồng tâm nhất trí" (báo L'Humanite' (29-9-1922) có giới thiệu thể thơ lục bát Việt bằng cách cho in nguyên bài ca dao tiếng Việt "Con mèo mà trèo cây cau", in hoa những chỗ gieo vần... Những ví dụ như vậy cần được phân tích sâu trong môi trường học đường để thấy giá trị, ý nghĩa tiếng Việt trong sự đối sánh với ngôn ngữ nước ngoài.

Hai là, giải pháp giáo dục. Học ngoại ngữ là trổ ra một cửa sổ mới đón gió văn hóa từ bên ngoài bầu trời thế giới. Làm chủ thêm một ngôn ngữ để thêm hiểu bạn bè và cũng hiểu ta hơn. Là phương tiện rất cần thiết trong việc làm giàu văn hóa tri thức dân tộc và cá nhân nhưng có một nguyên lý rất được chú ý là phải giỏi tiếng mẹ đẻ thì mới giỏi được ngoại ngữ.

Cho nên bài học giáo dục đầu tiên chống lai căng ngôn ngữ là tăng cường tình yêu tiếng Việt "đẹp và rất giàu" trong mỗi bài giảng ở nhà trường. Phải làm rõ cho người học thấy tiếng ta đẹp, tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm… ra sao. Có hiểu mới yêu. Có yêu mới trân trọng, quý mến. 

Thực tế cho thấy hiện tượng ngôn ngữ lai căng xảy ra nhiều ở giới trẻ. Tại sao vậy? Vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản, trong giao tiếp thể hiện rõ mình nhất. Mà người trẻ thì luôn thích mới, thích khẳng định cá tính, nhất là chưa đủ tri thức về tiếng Việt cũng như tiếng nước ngoài để có một bản lĩnh ứng xử văn hóa lịch lãm. Ngôn ngữ lai căng là ngôn ngữ "giả". Không một trí thức chân chính nào lại đi dùng kiến thức giả. Lai căng ngôn ngữ là hiện tượng xã hội, để ngăn chặn nó phải có sự tham gia của toàn xã hội mà trước nhất là tế bào gia đình, nhà trường, các cơ quan đoàn thể… Ví như Đoàn Thanh niên Cộng sản phát động phong trào Học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ - sử dụng ngôn ngữ là rất phù hợp.

Ba là, giải pháp luật-hành chính. Nhiều nước tiên tiến có Luật Ngôn ngữ trình bày rất rõ trong trường hợp nào cần mượn, ở mức độ nào, chú giải chi tiết ra sao… Ở ta chưa có luật này nhưng rất nên có các văn bản dưới luật quy định về cách dùng/ mượn tiếng nước ngoài, ví như trong các văn bản song ngữ hay quảng cáo thì chữ Việt phải ở trên và to hơn tiếng nước ngoài… Việc này hẳn nhiên có sự tham mưu và tham gia của Viện Ngôn ngữ học. Cần phạt hành chính với đơn vị nào (như nhà xuất bản, tờ báo…), sản phẩm văn hóa nào (sách báo) dùng lỗi sai trong lạm dụng tiếng nước ngoài.

Bốn là, giải pháp văn hóa làm gương. Ngôn ngữ là của chung nhưng các tầng lớp như chính khách, văn nghệ sỹ, nhà báo, nhà giáo… khi phát ngôn có ảnh hưởng nhất định đến xã hội, nhất là với giới trẻ. Với các nhà văn là "nghệ sỹ ngôn từ" thì cách dùng tiếng mẹ đẻ trong sáng, dễ hiểu, giản dị của họ là bài học cho bạn đọc.

Như V.Hugo đại văn hào Pháp là tác giả của bao kiệt tác vẫn xung phong làm từ điển tiếng Pháp, tự nhận hoàn chỉnh một mục từ. Điều ấy cho thấy mỗi nhà văn đồng thời là một nhà từ điển học. Dĩ nhiên vẫn có thể dùng ngôn ngữ nước ngoài về hướng đi, cách viết, câu chữ… nhưng phải với mục đích nghệ thuật làm trong sáng và giàu có thêm tiếng Việt. Các nhà báo làm mẫu cho bạn đọc trên ngôn từ chính xác, biểu cảm. Các nhà giáo làm mẫu cho học trò bằng lời nói chuẩn mực, tinh tế…

PGS.TS Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).