Kết cục bi thảm của viên Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật

Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, Vùng 4 chiến thuật là vùng rộng lớn nhất, bao gồm cả ĐBSCL hiện nay (trừ Long An), Bộ tư lệnh (BTL) đặt tại Cần Thơ. Mỗi vùng có biên chế quân đội là 1 quân đoàn. Đầu năm 1975, Tư lệnh Vùng 4, kiêm Tư lệnh Quân đoàn 4 là Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.

Tướng Nguyễn Khoa Nam bấy giờ khá nổi tiếng trong quân đội Sài Gòn. Khi đó, sắp vào tuổi 50 nhưng ông ta vẫn sống độc thân. Điều này có nguyên nhân sâu xa của nó. Nguyễn Khoa Nam là dân làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, nay thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. Từ nhỏ, ông ta tỏ ra rất có năng khiếu về hội họa và âm nhạc. Ngay từ những năm tháng còn là học sinh, nhất là thời gian học trung học tại Huế, ông ta đã có nhiều tác phẩm hội họa ấn tượng được trưng bày. 

Ai cũng nghĩ ông ta sẽ tiếp tục khẳng định tài năng của mình thế nhưng một biến cố trong tình cảm riêng tư đã xảy ra. Cô gái người yêu của ông ta sang Pháp định cư, rồi lấy chồng. Chàng họa sĩ tài hoa ấy đã vứt bỏ giá vẽ, vào lính và trở nên hận “phụ nữ”. Ông ta từng “thề” cho tới chết, sẽ không quen biết thêm người phụ nữ nào nữa… 

Trụ sở của Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật xưa.
Trụ sở của Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật xưa.

Sau khi học Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức (thuộc "Quân đội Quốc gia Việt Nam" trong Liên hiệp Pháp), Nguyễn Khoa Nam phục vụ cho chính quyền Ngô Đình Diệm với chức đại đội trưởng lính dù. Phục vụ trong binh chủng “con cưng” của Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu, ông ta liên tục thăng tiến. Từ quân hàm đại úy, lên cấp tá chẳng bao lâu, ông ta được Thiệu tin cẩn phong chuẩn tướng, rồi thiếu tướng, giao làm Tư lệnh Vùng 4, trấn giữ cả miền Tây.

Trước sức mạnh như vũ bão của quân Giải phóng, ngày 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức trao quyền lại cho Trần Văn Hương. Trước khi cùng gia đình lên máy bay ra nước ngoài, ông Thiệu cùng một số tay chân của mình vẫn nuôi ảo vọng “ngày trở về”. Tại dinh Độc Lập, ông Thiệu đã có cuộc làm việc với thuộc cấp “ruột” Nguyễn Khoa Nam. 

Cả hai “thầy trò” tỏ ra rất tâm đắc, đầy kỳ vọng với “phương án Gavin”. Đó là nếu Sài Gòn thất thủ thì khu vực cuối cùng phải án ngữ là miền Tây Nam Bộ. Sau cuộc họp đó, tướng Nam sốt sắng về Cần Thơ, vạch kế hoạch chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn rút về tử thủ.

Chính vì lo cho kế hoạch tử thủ này mà tháng 4-1975 cũng là những ngày bận bịu nhất của tướng Nam. Một thuộc cấp ông sau này viết trong hồi ký rằng: “Tư lệnh đi họp liên tục ở Tổng tham mưu, ở dinh Độc Lập. Thời gian còn lại, Tư lệnh thường đến các tiểu khu và sư đoàn nhưng nhiều nhất là tiểu khu Long An, Ðịnh Tường, Kiến Tường và Châu Ðốc”. 

Gần cuối tháng 4-1975, trong tình thế càng ngày càng hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng của quân đội Sài Gòn bay lũ lượt từ hướng Sài Gòn về phi trường Trà Nóc (Cần Thơ) và một số bay ra hướng Phú Quốc, tướng Nam vẫn còn dạt dào niềm tin, đến Châu Ðốc khảo sát “vành đai phòng thủ”. Lịch họp của ông ta vẫn dày đặc: Ngày 24-4, họp ở Bộ Tổng tham mưu; sáng 25-4, họp ở tiểu khu Ðịnh Tường… Ngày 27-4, tướng Nam ra lệnh giới nghiêm, yêu cầu các đơn vị bám vị trí, sẵn sàng chống trả quân Giải phóng. Sáng 28-4, tướng Nam tiếp cố vấn Mỹ tại văn phòng Bộ Tư lệnh. Sáng hôm sau, ông ta vẫn bay và chiều cùng ngày, họp ở BTL Sư đoàn 21 Bộ binh (cạnh phi trường Trà Nóc).

Điều khiến cho tướng Tư lệnh Vùng 4 lo lắng nhất vẫn là chuyện quân Giải phóng áp sát và chiếm giữ ngày càng nhiều vị trí trên QL4 (nay là QL1A). Đầu tháng 4-1975, tướng Nam đã trực tiếp đến tận nơi hoặc gọi điện khích lệ tinh thần binh lính tại Sư đoàn 7 Bộ binh (phụ trách tiểu khu Ðịnh Tường) và Sư đoàn 22 Bộ binh (rút từ Vùng 2 về, phụ trách tiểu khu Long An). 

Nguyễn Khoa Nam trước ngày 30-4-1975.
Nguyễn Khoa Nam trước ngày 30-4-1975.

Quyết không cho phá cầu Tân An và Bến Lức nhằm phục vụ cho kế hoạch di chuyển bộ máy chính quyền Sài Gòn và Bộ Tổng tham mưu về thủ phủ của miền Tây, tướng Nam liên tục lên “dây cót” tinh thần với các tỉnh trưởng trong Vùng 4 rằng “tôi sẽ chiến đấu tới viên đạn cuối cùng”. “Những ngày cuối tháng 4-1975, áp lực địch vẫn nặng ở QL4. Tiểu khu trưởng Long An tiếp tục báo cáo tình hình nguy ngập và xin tư lệnh cho giật sập cầu Long An. Tư lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ” – nhật ký của một thuộc cấp của tướng Nam viết.

Thiếu tướng Hà Nghĩa Lộ, nguyên Giám đốc Công an TP Cần Thơ cho biết, trong ngày 28-4-1975, dù từng tin Cần Thơ là “thủ đô thứ hai” sau Sài Gòn nhưng các tướng tá, nhân viên cao cấp của Mỹ - VNCH tại Tòa lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ đã hoang mang cực độ, kéo nhau xuống tàu hải quân chạy ra biển, trong số này có Đại tá Huỳnh Ngọc Diệp – Tỉnh trưởng và Chánh văn phòng BTL Vùng 4. 

Tướng Nam đã chỉ định Đại tá Trần Cửu Thiên lên nắm quyền tỉnh trưởng, kiêm thị trưởng Cần Thơ; chỉ đạo tiếp tục duy trì hiệu lực lệnh tử thủ và lệnh giới nghiêm 24/24 toàn thành phố, đồng thời gấp rút điều lực lượng (gồm 4 trung đoàn chủ lực, 1 trung đoàn bảo an, 2 thiết đoàn xe thiết giáp M113) về giữ tuyến Lộ Vòng Cung, chống trả quyết liệt các cánh quân Giải phóng nhằm bảo vệ cơ quan đầu não. Sáng sớm 30-4, tướng Nam vẫn bay xuống Ðịnh Tường để chỉ đạo cuộc họp chớp nhoáng, xong ông ta bay ngay về Cần Thơ.

Sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, lúc 15h ngày 30-4-1975, 18h30 cùng ngày, lực lượng An ninh TP Cần Thơ chiếm lĩnh Ty Cảnh sát Phong Dinh và Bộ Tổng tham mưu Vùng 4 chiến thuật, tước vũ khí bắt tại chỗ trên 100 tên cảnh sát… Tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn ngoan cố tử thủ. Đó cũng là lúc đó ông ta phát hiện có nhiều nội dung trong kế hoạch tử thủ đã bị vứt vào sọt rác, không được triển khai đến các tiểu khu theo lệnh ông ta. Không chỉ có vậy, ông ta còn muốn không tin vào tai mình khi nghe báo cáo tay trợ lý đã “hớt tay trên” khi dùng chiếc máy bay trực thăng dành riêng cho ông ta, để cùng vợ con bay ra Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi.

Ba ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, đài BBC loan tin cả 2 viên tướng Tư lệnh Vùng 4 đều đã tự sát, chết tại BTL vùng. Chuẩn tướng, Tư lệnh phó Lê Văn Hưng đã tự sát trước mặt vợ con và nhiều thuộc cấp chiều tối 30-4-1975. Đến viếng và an ủi vợ con tướng Hưng vào tối hôm ấy, tướng Nam lộ chút hoang mang. Còn tình tiết tướng Nam “tự sát”, BBC dẫn từ một cấp dưới của ông ta xác định điều này. Trong hồi ký sau này của một người xưng trung úy, Lê Văn Danh - một trong những thuộc cấp có mặt bên “chủ tướng” Nam vào đêm 30-4-1975, có đoạn tả lại khá tỉ mỉ khoảnh khắc tướng Nam tự sát. Tướng Nam gần như thức trắng đêm 30-4-1975 và rít thuốc lá liên tục.

Đến sáng 1-5-1975, khi trinh sát của ta vào thì phát hiện tướng Nam đã tự kết liễu mạng sống của mình bằng khẩu súng ngắn. Nhiều người cho rằng, trong tình huống không còn máy bay để di tản, tướng Nam chọn cách tự sát là do ông ta sợ bị trừng trị (?). Điều đó không ai kết luận đúng sai. Có nhân chứng kể lại, trước khi tự sát, tướng Nam đã nói với một số thuộc cấp: “Các em hạ vũ khí đi, đừng đổ máu vô ích nữa. Họ (quân Giải phóng) là người chiến thắng sẽ không đối xử tệ bạc với chúng ta đâu”. 

Một số ý kiến khác thì cho rằng có thể trước khi tự sát, ông ta đã nghĩ đến tình huống sẽ bị những “chiến hữu” và người thân của họ trả thù vì đã nghe theo những toan tính điên cuồng, đặc biệt là “nhật lệnh” tử thủ của ông ta, chống trả lại quân Giải phóng, mà họ và người thân của họ đã phải trả giá thích đáng. Thực tế ngày 30-4-1975, chấp hành theo tuyên bố của chính quyền Cách mạng, nhiều người của chính quyền Sài Gòn đã nhận được đối xử khoan dung...

Thái Bình

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.