"Huyệt đạo đế vương" - Huyền thoại và sự thật!

Không chỉ ngày xưa mà ở thời hiện đại nay người ta cũng cố chọn một nơi đất tốt để xây mộ cho người thân. Có đất tốt hay không thì chưa rõ nhưng sự tốn kém và kỳ công thì có thật. Đấy là sự rơi rớt từ rất xa xưa cái quan niệm "huyệt đạo phong thủy" đầy huyền bí.

Chung quanh sự lên ngôi, hưng thịnh rồi diệt vong của mỗi triều đại phong kiến phương Đông xưa đều được phủ một lớp sương mù hư ảo về mồ mả. Chuyện ấy cũng chưa thể khẳng định nhưng chắc chắn là có bàn tay can thiệp của con người nhằm mục đích chuẩn bị cho sự ra đời hay củng cố thêm tính vững chắc hoặc độ lâu dài của một vương triều. Về bản chất đó là mối quan hệ vương quyền và thần quyền. Những huyền thoại kia cũng chỉ là một lực lượng của thần quyền làm công cụ cho vương quyền mà thôi. 

Đền Đô thờ tám vua triều Lý.
Đền Đô thờ tám vua triều Lý.

Trước tiên xin kể một chuyện có thật được sử sách ghi lại. Đó là sự kiện về vị quan "khai quốc công thần" triều Gia Long là Nguyễn Văn Thành bị xử tội chết. Ông là người có công lớn giúp nhà Nguyễn dựng cơ đồ rồi trở thành "thông gia" với vua Gia Long. Nhưng một tai họa kinh hoàng ập đến. 

Nguyễn Văn Thuyên con trai ông cũng là con rể Gia Long văn hay chữ tốt từng đỗ hương cống có làm bài thơ tặng bạn. Hai câu cuối nói về ý con người cùng đất nước sơn hà gặp phen hội ngộ sẽ là dịp giúp nhau xoay chuyển thời thế này. Ý thơ đầy khẩu khí của kẻ đội trời đạp đất. Thế nhưng liền bị triều đình khép vào tội "có ý phản tặc". Cả hai cha con Văn Thành bị chết oan! Chết vì một vài câu thơ thì xưa vẫn có nhưng ở đây sâu xa còn một lý do khác...

Sau khi lên làm vua, Gia Long sai quần thần rồi tự mình đi tìm "huyệt đạo đế vương" để cho con cháu sau này bền vững nối ngôi. Lần ấy Gia Long tìm được mảnh đất phong thủy rất đẹp, bèn gieo quẻ rồi cho đào sâu xuống thì bắt gặp thấp thoáng 5 sắc óng ánh. Theo kinh nghiệm đất nào có "ngũ sắc" thuộc hàng "đại quý". Vua mừng lắm. 

Trong lúc Vua vui như vậy, cũng là số trời mà Văn Thành thốt lên, có lẽ cũng là để chia sẻ với người từng kề vai vào sinh ra tử, là thần cũng đã tìm được nơi đất tốt như thế để táng gửi hài cốt thân mẫu... Chỉ một lời nói ấy đã hại cả gia tộc Văn Thành. 

Vốn đa nghi, tàn nhẫn và độc ác, Gia Long nghĩ ngay đến chuyện thế là Văn Thành có ý làm vua nên mới tìm "huyệt đạo"... Thì ra cái cớ là câu thơ kia để Văn Thành chết chỉ là bề ngoài!

Không chỉ Gia Long mà các vua triều Nguyễn sau này đều rất tin phong thủy huyệt mộ nên đều sai người rồi tự mình đi chọn. Vua Minh Mạng phải mất 14 năm mới tìm được chỗ ưng ý. Điều ấy đã thành truyền thống...

Ngược trở về lịch sử tiên tổ nhà Nguyễn, tương truyền, Nguyễn Kim chết, thi hài được đưa về táng ở núi Triệu Tường (Hà Trung - Thanh Hóa). Khi đặt quan tài xuống huyệt thì trời nổi cơn sấm sét, mưa gió ầm ầm, miệng huyệt cứ từ từ khép lại. Mọi người kinh hãi bỏ chạy. Khi trời quang mây tạnh, thì nơi đặt quan tài cũ đã thành cả một triền núi đá trùng điệp, cây tốt cỏ tươi... Từ đó núi có tên mới là Thiên Tôn. 

Cho nên sau này mỗi dịp tế bái Triệu tổ, các vua nhà Nguyễn chỉ làm lễ bái vọng ("vọng" có nghĩa nhìn xa), đứng dưới chân núi mà bái "vọng" lên. Huyền thoại đã đi vào rồi hằn đậm trong tâm trí mỗi vua nhà Nguyễn sau này để rồi trở thành một tập quán, một nguyên tắc.

Dưới góc nhìn phong thủy hiện đại thì quần thể di tích vua Gia Long là đẹp nhất trong số các Lăng triều Nguyễn. Đây là một kiến trúc phong thủy điển hình: có tả Thanh Long, có hữu Bạch Hổ, có minh đường là một hồ nước lớn. Lại có cả một ngọn núi nhỏ làm triều án...

Thế là chỉ một sở thích, một ý chỉ của vương quyền mà có thể làm tổn hại bao sinh linh. Mặc dù những sinh linh đó vô tội, thậm chí người bị kết tội chết từng là cánh tay phải của bậc đế vương!

Khu di tích Vua Gia Long rất "chuẩn" phong thủy!
Khu di tích Vua Gia Long rất "chuẩn" phong thủy!

Huyền thoại về phong thủy cho rằng Thanh Hóa là đất "phát vương", trong đó gia thế chúa Trịnh truyền được tới 12 đời là nhờ "phúc" từ cụ Hưng tổ Phúc ấm vương Trịnh Liễu (Sóc Sơn - Vĩnh Lộc ngày nay). Cụ Liễu làm ruộng, hiền hậu, phúc đức được một vị thần chỉ nơi đất phát vương nghiệp (núi Hùng Lĩnh, huyện Vĩnh Lộc). Nghe lời ông đem hài cốt cha táng ở đấy. 

Vị thần chỉ tiếp núi Lệ Sơn và vùng Mã Thắm nói đất này "quý địa" phát tài tới cả trăm năm... Tính theo gia phả thì Trịnh Kiểm là cháu bốn đời cụ Trịnh Liễu. Đúng như lời thần nhân, vương nghiệp họ Trịnh phát lên từ huyệt địa núi Hùng Lĩnh. Về sau nhà chúa Trịnh phong vị thần mách cụ Trịnh Liễu làm Tống Thiên Thần vương...

Vẫn theo huyền thoại có nhà sư giỏi địa lý mách cụ Lê Khoáng (thân phụ Lê Lợi) vùng đất thiêng có long mạch hình "quốc ấn" (dấu hiệu cao nhất của vương quyền) có "tả Thanh Long" là núi Thái Thất và núi Chí Linh (huyện Lang Chánh nay) "hữu Bạch Hổ" là dòng nước uốn, "minh đường" là xứ Long Sơn rộng rãi... Cụ Lê Khoáng đem táng hài cốt cha mình vào huyệt đạo như chỉ dẫn. Về sau Lê Lợi được nhờ cái "phúc" ấy! 

Theo dã sử thì huyền thoại lưu truyền trước cả thời điểm Lê Lợi kháng chiến, như là một sự "chuẩn bị" cho Lê Lợi lên ngôi Thái tổ mở ra một thời đại thịnh trị. Trong thời kháng chiến lại có thêm rất nhiều huyền thoại mới như là sự tiếp nối, như là sự khẳng định Lê Lợi xứng đáng làm vua. Ví như giai thoại Nguyễn Trãi cho viết chữ bằng "mực mật ong" vào các lá cây 6 chữ: "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần". Kiến cứ thế ăn mật để lộ ra những chữ của Trời "phán"...

Sự chuẩn bị cho nhà Trần nắm quyền thì có hẳn một chùm truyện ly kỳ, nổi bật là "Trần triều tổ mộ ký" (Truyện mộ tổ nhà Trần) được nhiều sách cổ in như "Công dư tiệp ký", "Đại Nam dư địa chí ước biên"...Vốn xuất thân nghề chài lưới, lại có gốc gác nơi ở cũng rất bình thường (Tức Mặc) mà làm nên nghiệp đế, nhà Trần phải nhờ thần quyền tâm linh "chuẩn bị cơ sở" về tư tưởng. Huyền thoại phải làm nhiệm vụ này. 

Truyện kể để trả ơn một người họ Trần cứu mạng, ông thầy địa lý Tàu liền biếu ngôi huyệt phát đế (ở Nhật Cảo, Thái Đường, huyện Hưng Nhân) mà mình công phu tìm được. Đó "huyệt đạo" có thế "Thổ tang phúc tàng kim" (đất giấu vàng) trông ra "minh đường" là ngã ba sông nước mênh mang, cờ gươm hai bên tả hữu, phía sau tựa vào hình voi phục. Quả nhiên Trần Cảnh chỉ từ chỗ làm chức "Hỏa đầu" (chức quan sai bảo) trong cung Lý Chiêu Hoàng mà được làm chồng Công chúa rồi được nhường ngôi.

Lý giải sự "phế" (xuống dốc) của thời mạt Trần, huyền thoại phong thủy cũng can dự rất đậm. Chả là con cháu thầy địa lý Tàu kia thấy không được nhà Trần kính trọng như trước, nhớ lời cụ Tổ dặn mở "sấm thư" rồi gửi sang Đại Việt. Nhà Trần ngây thơ làm theo: "Huyệt mộ Thái Đường hết thịnh, cần khơi thông thuỷ đạo" cho đào mở một đường thủy đạo (dòng sông). Không ngờ đó là kế hiểm của thầy địa lý để lại, đường thuỷ đạo làm đứt long mạch. Nhà Trần dần dần suy tàn...

Ngược thời gian về với triều Lý vẻ vang tồn tại hơn 2 thế kỷ (215 năm, từ 1009 - 1225). Bản "Thiên đô chiếu" (1010) của Lý Thái tổ thực sự là áng văn bất hủ cũng nhắc tới hình thế phong thủy tiêu biểu của đất Thăng Long. Sự chuẩn bị cho một người có gốc ở đất Cổ Pháp (Bắc Ninh), xuất thân bình dân mà lên ngôi Hoàng đế cũng rất cần thần quyền "giúp đỡ".

Truyện kể thân phụ Ngài nghèo khó, đi làm thuê ở chùa Tiêu Sơn rồi phải lòng một tiểu nữ. Nhà chùa bèn đuổi họ đi. Hai vợ chồng dìu dắt nhau đến nơi rừng Báng, ngồi nghỉ dưới gốc cây. Người chồng xuống giếng uống nước, chẳng may sảy chân chết đuối. Người vợ bụng mang dạ chửa đi tìm thì thấy giếng đã tự lấp quá nửa... Nàng đành vào chùa Ứng Tâm gần đó xin tá túc...

Theo phong thủy xưa, huyệt mộ không lấp mà tự đầy, tức được "thiên tạo", con cháu không phát vương thì cũng được danh vọng quý. Điều này đã "ứng" với dòng dõi họ Nguyễn (Nguyễn Kim) và trước đó là thân phụ Lý Thái Tổ. Trường hợp này còn gọi "mộ kết", nếu đào lên thấy đất ở đó óng ánh "ngũ sắc" thì phải "hoàn nguyên" ngay. Nếu cứ đào sẽ bị "đứt" long mạch... Hoặc ngôi mộ nào được mối/kiến đùn lên hoặc tự cao lên... cũng có thể được coi là "thiên tạo". Dần dần tín ngưỡng ấy trở thành phong tục "Sống vì mồ vì mả/ Ai sống bằng cả bát cơm". Hằng năm đi chạp mộ cũng là cách "tôn tạo" mồ mả cha ông cao ráo sạch sẽ. Hạt nhân của phong tục này là khát vọng nhân bản con người muốn vươn lên tới đỉnh cao của danh vọng, giàu có, vương giả.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).