Đọc "Rừng xanh mưa", thơ Nguyễn Thanh Lâm, NXB Hội Nhà văn, 2018

Huyền ảo những cơn mưa

Đây là tập thơ mới nhất của nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm. Tập thơ dày 150 trang, gồm 71 bài, được viết trong khoảng vài ba năm trở lại đây...

Bài thơ "Rừng xanh mưa" ở cuối tập, được tác giả lấy làm tên chung cho cả tập. Nghĩa là có rất nhiều mưa rải rác trong cả tập, nhưng lạ thay, chỉ có mỗi bài thơ "Rừng xanh mưa" chuyên chú tả những cơn mưa rừng, hoặc giả như có vẻ là mưa rừng, còn thì rất nhiều mưa biển, mưa lòng, mưa ở khắp nơi trong cõi người và cõi mộng. Mưa ảo mưa thực trộn lẫn vào nhau, dan díu với nhau, hòa âm hòa sắc với nhau, vang lên những tiếng mưa hữu hình và vô hình, hữu thanh và vô thanh, dường như miên man bất tận…

Đây nhé! "Gặp mưa " (tr.13), "Biển sau mưa" (tr.14), "Biển lại mưa" (tr.16), "Biển Hồ chiều mưa " (tr. 96), rồi thì "Rừng xanh mưa"… Và còn biết bao những chữ mưa rả rích trong suốt cả tập thơ, kể cả những hạt mưa bong bóng và vang bóng.

Mưa đến
Và mưa đi
Sóng biển vẫn mải mê trôi đến vô cùng
Cõi vĩnh hằng xa xăm
Thời gian giới hạn đời người
Cầm cố giấc mơ
Tôi hằng mơ những giấc mơ trong đời chật chội…

(Đức tin)

Hình dung thấy khá rõ ba mảng thơ được tác giả thể hiện trong tập này. Mảng thơ viết trong thời gian 15 ngày ở Nhà sáng tác Vũng Tàu, tập trung ở những cảm xúc, những suy tư từ biển, về biển. Mảng thơ thứ hai được Nguyễn Thanh Lâm viết khi anh cùng bạn bè lần đầu tiên ra thăm Côn Đảo, thăm đất nước Chùa Tháp láng giềng từng một thời chồng chất khổ đau và kiêu hãnh vì những vả tầng kiến trúc, văn hóa sâu dày, để đối diện với lịch sử, đối diện với quá khứ đã xa và chưa xa, để tự nhận thức, tự tỉnh thức, tự phản tỉnh, làm mới tư duy còn hạn chế của mình.

Tác phẩm mới của nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm..
Tác phẩm mới của nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm..

Mảng thơ viết gần đây nhất là thơ viết từ chính phòng văn của tác giả tại Hà Nội. Cũng chỉ gọi là tương đối thế thôi, chứ không gian thơ là rộng lớn, từ nhỏ đến lớn, biên độ thời gian dường như không có điểm dừng nhất định. Tuy nhiên, cảm hứng bao trùm của tập thơ vẫn lại là tình yêu với muôn vẻ sắc màu chìm nổi.

Đây là nhận thức từ đôi mắt, về đôi mắt:

Cuộc đời xấu, đẹp, thiện, ác đan cài
Như âm trong dương, như dương trong âm
Hạnh phúc thay những người nhìn đời bằng con mắt đẹp
Đôi mắt của yêu thương-bản năng như nhiên
Sẽ có một ngày cái ác cái xấu hổ thẹn cúi đầu.

Và hơn thế:

Nhắm mắt nhìn vào lòng mình thấy tất cả hiện lên
Không khoảng cách
Không thời gian
Thấy ánh sáng giấc mơ dịu dàn
g

(Nhắm mắt II)

Nhắm mắt, nhưng mà lòng thì mở mắt, để suy tư về biển, về lằn ranh phân định lãnh hải các quốc gia, về “lằn ranh của cái ác và cái thiện”, của “tình yêu và vô cảm”, về lòng tham vô đáy của con người, về cõi người khó hiểu và thật dễ hiểu. Thi nhân mơ ước một thế giới trong hòa bình:

Trái đất ôm biển trong vòng tay lớn
Ta mong con người điệp trùng nối những vòng tay!

Và gần hơn, thực tiễn và hiện hữu không bình yên của biển. Con người ở nơi này nơi khác vẫn chưa phải là con người hoàn hảo. Và có lẽ cũng không bao giờ có sự hoàn hảo. Tham lam và độc ác vẫn còn đang lấp ló, đang ngự trị khắp đó đây. Thi nhân, trở về từ những giấc mơ nhân văn, từ khát vọng hòa bình, lòng lại chợt vấn vương với liên tưởng gần gũi:

Giật mình, xót xa đọc ĐÁM CƯỚI MỘT LINH HỒN
Biết bao lứa đôi yêu nhau trong chiến tranh
Khi thời bình người yêu đã gửi xác thân và linh hồn trong lòng biển
Họ thắp hương, thả hoa trên biển
Cưới linh hồn…

Một chủ đề có thể nói là quen thuộc, bao trùm và nổi bật trong tập "Rừng xanh mưa" chính là tình yêu. Tình yêu với thiên nhiên, với con người đôi khi ở cấp độ nhân loại, nhưng gần gũi hơn và đậm đặc, dễ thương hơn là tình yêu lứa đôi, nồng ấm mùi hương bản thể.

Nửa tháng ở Vũng Tàu, Nguyễn Thanh Lâm thường ngày vẫn ra ngắm biển. Ngắm biển, chẳng những là để thưởng lãm vẻ đẹp bao la của biển cả nước xanh như ngọc bích, mà còn là để suy tư về thiên nhiên, về lẽ đời, về cõi siêu hình.

Cái khác biệt của thi nhân với người thường chính là ở cấp độ thứ hai, ở cấp độ suy ngẫm về biển cả: “Biển ở lòng tôi/ Biển ở thơ tôi/ Thơ tôi viết về biển thế nào do tôi định đoạt/ Đâu ngờ/ Có lúc biển định đoạt thơ tôi/ Mai xa/ Trong mắt của thời gian và mắt cuộc đời/ Tôi và biển sẽ mang số phận khác/ Có thể sẽ trôi vào quên lãng/ Có thể rưng rưng vô bến bờ đời/ Nhưng tôi sống cho hôm nay, giây phút này/ Biển và tôi”.

Trong thơ ở đây có biển không mưa. Có biển trong mưa. Và cũng có biển sau mưa:

Sau cơn mưa
Biển trở lại tuổi thơ
Như cô gái mới vào chùa chưa xuống tóc
Hồn nhiên tóc gió vẫy mây
Mắt biển ngây thơ
Nhìn nhà thơ với ánh mắt đời trần
Nắng bản năng thiếu nữ
Nhịp thở êm ru song
Hương trinh nữ lặng thầm…

Với Nguyễn Thanh Lâm, biển cả hiện lên trong nhiều chiều kích, nhiều sắc màu tâm tưởng. Có khi thi nhân thấy biển lãng đãng màu Thiền, có khi xinh đẹp mộng mơ như một trinh nữ, hoặc như một thiếu nữ mới vào chùa nhưng chưa xuống tóc… Ít thấy cái dữ dằn bão tố, nhưng thấy sự cuồn cuộn trong đáy ngầm của những suy tư triết học, ngổn ngang bề bộn, đôi khi là sự lẫn lộn dường như không thể phân định rạch ròi giữa nhận thức thẩm mĩ và minh triết nhân văn.

Biển chưa im lặng bao giờ
Suốt đời quằn quại song
Cả đời mặn nước mắt khổ đau
Mưa trời không thể bão hòa vị mặn.

Biển Thiền trong động chăng
Sóng gió, vị mặn là bản thể bản năng
Trời sinh ra thế
Như thơ sinh ra từ tình yêu và nỗi khổ con người

Tôi nhìn vào lòng mình thấy biển
Nước mắt chảy vào trong mặn cõi người.

Thi sĩ Nguyễn Thanh Lâm là con người của tình yêu, của sự đa cảm, đa tình. Các thi nhân thường vẫn thế. Yêu cái đẹp vĩnh cửu và cả cái đẹp nhất thời. Đôi khi là cả tình yêu trong ảo vọng. Ảo vọng nhưng mà lấp lánh cả một niềm hy vọng chói chang.

Các người đẹp, các đôi mắt của đàn bà trên thế giới facebook, vừa xa vừa gần, đều có cả. “Đã gặp nhau đâu/ Chỉ biết nhau trên facebook/ Tôi vẫn viết những dòng cảm xúc/ Lang thang trong vô tận tìm người/ Tìm em/ Tìm tình yêu/ Khi mắt tôi dõi tìm/ Cuốn sách đời/ Cuốn sách cuộc sống tôi tìm được/ Là đôi mắt em nhấp nháy trên trời mây/ Và tôi đọc triền miên/ Những trang khổ đau và ngời xanh mơ ước/ Nghìn đôi mắt cuộc đời…”.

Với đàn bà và thơ, thi nhân khẳng định:

Em đừng làm thơ
Em đẹp-em đã thơ rồi !

Lại còn triết luận như một triết nhân si tình:

Thơ hay là trời cho
Sắc đẹp cũng trời cho
Mĩ viện, thời trang, son phấn tạo vẻ đẹp giả mong chống lại thời gian

Em đẹp, em đâu biết
Em là nắng lung linh trong đêm mộng của người yêu.

Nhưng tình yêu dù là keo sơn gắn bó chung tình, nó cũng đôi khi dở chứng dở nết như thiên nhiên, như biển cả. Cái chuyện hay chuyện dở, hay là chuyện lừa dối ái tình, cũng đều có cả, xưa nay đều có cả. “Tôi biết em lừa dối tôi/ Tôi bằng lòng xem em lừa dối/ Bình thản như không biết/ Thơ bảo tôi hãy dại ngây/ Tình yêu bảo tôi ngây dại/ Hoa tím rơi ngược lên cành/ Nhìn màu tím thủy chung như ảo ảnh/ Tôi nhìn em như ảo/ Nhìn thật, em sẽ buồn hơn tôi”. Biện minh, chứng minh rồi biện luận về một trong những sắc thái của tình yêu muôn màu, đau trong mê muội, trong tỉnh táo phân minh. 

"Rừng xanh mưa" là một tập thơ đáng đọc. Tuy nhiên, trong tập còn một số bài tứ thơ còn lỏng, nhiều lời ít ý. Trong số những bài hay, theo tôi, bài "Trăng ngày"  viết về thi sĩ Hàn mặc Tử là đáng chú ý hơn cả. Hay cả về ý về tình, đẹp trong ngôn ngữ biểu cảm, cấu tứ chặt chẽ.

Chỉ nơi đây trăng sáng giữa ban ngày
Trăng hòa trong nắng thu vàng óng
Người mặc áo trăng nằm dưới kia
Người ôm trăng ru trăng vào giấc mơ

….

Nhừng giọt trăng đọng trong lá biếc
Ngập ngừng rơi xuống hồn tôi
Tôi hớp giọt trăng có vị thơ và máu
Máu cuồng say và thơ điên cuồng yêu

Chỉ nơi đây trăng sáng giữa ban ngày
Trăng chọn hồn thi nhân làm nơi trú ngụ
Tôi đứng trong không gian thơ bất tử
Chọn thơ là cõi đi…về!

Tập thơ có bài thể hiện quan niệm của tác giả về đổi mới thơ, đổi mới chính bản thân nhà thơ. Tác giả cho rằng: “Xã hội rừng có luật chơi riêng/ Thời gian không thay đổi luật chơi/ Nên tất cả chúng ta làm mới mình rất khó/ Không mới, sẽ bị khuất chìm”.

Thì vưỡn! Nhưng đổi mới như thế nào, đó mới chính là vấn đề hết sức khó khăn. Thế giới mở cửa, kinh tế hội nhập, nhưng văn hóa phương Đông không thể là văn hóa phương Tây. Tìm hướng thể hiện mới cho thơ, trước hết và căn cốt phải là đổi mới tư duy thơ, phải trên tinh thần tiếp thu tinh hoa của thơ ca truyền thống...

                Hà Nội 3-2018

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).