Hữu Việt: Mượn thiên nhiên để trải nỗi lòng

Nhà thơ Hữu Việt (tên khai sinh: Trần Hữu Việt) sinh năm 1963, tại Hà Nội, quê Nam Định; cha là nhà văn Hữu Mai, anh trai là nhà văn Bình Ca.

Hữu Việt nguyên Trưởng Ban Văn hóa - Văn nghệ Báo Nhân dân; hiện là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa X (2020-2025), Trưởng Ban Nhà văn trẻ, Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam; Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương. Anh tốt nghiệp đại học tại Liên Xô (trước đây, 1986); tham gia Chương trình Viết văn quốc tế tại IOWA (Hoa Kỳ, 2001). Anh đã in 6 tập thơ, văn xuôi, dịch thuật và được trao nhiều giải thưởng văn học, trong đó có Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2007).

Mượn thiên nhiên để thăng hoa cảm xúc thơ

Bước vào làng thơ với 2 tập thơ “Phố lạc tiên” và “Đếm mùa”, ta thấy thơ Hữu Việt bảng lảng chất thơ của nhà “phu chữ” Lê Đạt khi lấy sự tinh tế và chơi chữ làm đầu. Và, trong thực tế, Hữu Việt cũng coi nhà thơ Lê Đạt là “sư phụ” trong nghề viết. Theo phong cách này, mỗi bài thơ như một bức tranh nhỏ đầy chất thơ, với độ dài chỉ vài câu, bài thơ tưởng như đơn giản nhưng lại ẩn chứa nghệ thuật ngôn ngữ tinh tế và giàu cảm xúc, đặc biệt là cách chơi chữ sáng tạo như trong bài thơ “Sáng trưa chiều tối” sau đây: “Ngày nắng nắng mưa mưa/ Người thưa thưa vắng vắng/ Sáng bằng bằng lặng lặng/ Má mịn mịn măng măng/ Trưa phập phồng lộ lộ/ Mắt ngộ ngộ ngây ngây/ Chiều trắng trắng bay bay/ Ngực vầng vầng mây ấm/ Đêm thơm thơm ẩm ẩm/ Môi ngấm ngấm say say/ Xuân đầy”.

Những câu thơ ngắn nhiều điệp từ trong bài này gợi cảm giác mộng mị, lãng đãng với các hình ảnh rất thơ, vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa cảm xúc vừa rất gợi hình với hình ảnh người con gái hiện lên như một “nàng thơ” vừa e ấp, vừa tinh nghịch, vừa gợi cảm, vừa thi vị.

nhà tho h%3fu vi%3ft 1.jpg -1
Nhà thơ Hữu Việt.

Cũng với sự tinh tế như trên, trong “Thu cảm” ta lại thấy bài thơ như một chiếc lá vàng rơi chậm trong chiều thu - không ồn ào, không chói sáng, nhưng đọng lại trong lòng người đọc với những câu thơ tưởng chơi chữ, nhưng thực ra lại chứa đựng một hàm nghĩa sâu sắc khi thu không chỉ là mùa, mà còn là một biểu tượng của sự chín muồi, của tĩnh tại và suy ngẫm: “Tại sao không đi bộ/ trong một chiều tàn thu/ để nhận ra thành phố/ vẫn thả bước theo mùa/ Gió đang trườn ngọt lịm/ trên ngực phố quên cài/ môi xinh ai vừa hé/ đón sắc hồng ô mai/ Để thấy là ta sai/ vì mùa thu luôn đúng/ trong khuông nhạc thời gian/ nhận mình làm dấu lặng/ Chỉ những khi bước chậm/ ta nghe tiếng mùa đi/ giữa bộn bề quên nhớ/ khe khẽ tim tìm về”.

Bài thơ như một lời nhắc: hãy sống chậm lại, hãy đi bộ, hãy cảm nhận. Trong nhịp sống hiện đại vội vã, việc bước chậm dường như là một hành động xa xỉ - nhưng chính trong nhịp chậm ấy, con người sẽ phát hiện thấy điều mà đôi khi mắt thường không chạm tới.

Nhưng, hành trình thơ của Hữu Việt không chỉ dừng lại ở những bài thơ trữ tình ẩn chứa nghệ thuật thuật ngôn từ tinh tế và đầy thi vị như nói ở trên, mà ở tầng sâu khác của thi ca đời sống và chiêm nghiệm, ta bắt gặp một Hữu Việt đầy suy tư với nhiều trải nghiệm thế sự.

Trong bài “Thơ dâng cha” viết về những khoảnh khắc cuối cùng trên giường bệnh của nhà văn Hữu Mai, trái tim Hữu Việt như nghẹn lại: “Hôm nay, trái tim cha đang đập những chặng cuối cùng mệt nhọc/ bộ não phi thường bị phù vì một khối u 2,7 mm/ đêm qua con thức canh cha, đêm nay lại thức canh/ Đêm thì dài mà thời gian ở bên cha ngày càng ngắn lại/ những quyển sách đã quay về giá sách/ dòng cuối cùng cha đã viết xong từ lâu/ Những dự định, kế hoạch chưa hoàn thành/ thảy đều vô nghĩa cả/ cha đã sống một cuộc đời kiêu hãnh xiết bao/ Cha ơi! phải chứng kiến cha héo mòn mà chúng con chẳng làm gì được nữa!”.

Bài thơ chân thực và đầy ám ảnh về tình cha con trong khoảnh khắc chia ly sinh tử. Đây không chỉ là lời từ biệt nghẹn ngào của một người con dành cho người cha đang trên giường bệnh, mà còn là một bản ghi chép đầy cảm xúc về hành trình cuối cùng của một đời người. Những câu thơ không hoa mỹ, không lên gân nhưng lại “rất người” là cảm giác bất lực, đau đớn tột cùng khi chứng kiến người thân đang dần rời xa cõi sống. Đây là một bài thơ không để đọc bằng mắt, mà để cảm bằng tim.

Tôi nghĩ rằng ở mảng thơ chiêm nghiệm về đời sống nhân sinh, Hữu Việt thực sự đã có được nhiều bài thơ lắng đọng thế thái nhân tình. Khi viết về “sư phụ” Lê Đạt trong bài “Nhà thơ”, Hữu Việt đã khắc họa thành công một chân dung nghệ thuật sống động, một nghệ sĩ lớn, một nhà “phu chữ” cả đời nặng nợ với con chữ và cuộc đời.

Với lời thơ thủ thỉ, gần gũi nhưng giàu tầng ý nghĩa, bài thơ không chỉ là lời tiễn biệt, mà còn là lời tri ân, lời khẳng định giá trị của người làm thơ với bản lĩnh, nhân văn: “Ông bảo người làm thơ/ Phải có gan cãi nhau với cả nước/ Nhưng tôi chưa thấy ông đôi co bao giờ/ “Anh em văn nghệ/ Đoàn kết vẫn hơn đánh lẫn nhau”/  Và cười/ Ông bảo người ta có quyền được sai/ Bằng quyền được đúng/ Trong thơ, tất cả đều bình đẳng”.

Những câu thơ này mang đậm tinh thần khai phóng và dân chủ trong tư duy nghệ thuật. Lê Đạt không áp đặt, không phán xét mà mở ra không gian sáng tạo rộng lớn, nơi tư tưởng được tôn trọng, cảm xúc được lắng nghe. Với ông, thi ca không là nơi độc quyền chân lý mà là không gian đối thoại giữa mọi tầng cảm xúc.

Khắc họa đời sống trong mạch thơ trữ tình nhân sinh

Trong một bài thơ ngắn khác viết về nhà thơ Trần Dần khi “Đọc mùa sạch”, cũng với giọng thơ tự do nói trên, Hữu Việt đã khắc họa khá hay về một nhà thơ lớn: “Gặp thơ Trần Dần/ gieo mầm trên đất xấu/ Vần đồng dao/ mà cồn cào sáng tạo/ một khát khao sạch suốt mùa/ Gặp những thế chữ vô song/ trong trận đại chiến từ/ Nghe tiếng rung/ của đại thụ cầm/ đòi sạch như đòi sống.../ Tiếc mình không biết nhiều về ông”.

Trong dòng chảy của thi ca Việt Nam hiện đại, Trần Dần là một tên tuổi đặc biệt, vừa dị biệt, dữ dội, vừa sâu sắc và tiên phong. Bài thơ “Đọc mùa sạch” của Hữu Việt không chỉ là một lời tri ân, một cúi đầu trước tài năng của người đi trước, mà còn là một cuộc đối thoại thầm lặng giữa hai tâm hồn thơ: một đang đọc và một đã sống trọn đời cho chữ nghĩa.

bìa t%3fp tho m%3ft bò c%3fa h%3fu vi%3ft.jpg -0
Bìa tập thơ “Mắt bò” của Hữu Việt.

Bên cạnh những bài thơ “chấm phá chân dung” về các nhà thơ mà mình yêu mến, Hữu Việt cũng có những quan sát, phát hiện từ cảnh vật thiên nhiên các tứ thơ mới mang màu sắc triết luận như “Cây ở phố Hàng Trống” với nhiều suy ngẫm: “Rễ cây dù mọc ngược/ Vẫn tìm nơi đất lành/ Những chòm râu minh triết/ Buông xuống từ trời xanh/ Tọa thiền bên hồ linh/ Đời gọi là cây Phật/ Xòe tán lá từ bi/ Qua thăng trầm vận nước/ Quý lấy tiện làm gốc/ Cao lấy thấp làm nền/ Đó mới là cội phúc/ Cây nói cùng nhân gian”.

Ở bài thơ này, hình ảnh rễ cây được nhân hóa thành “chòm râu minh triết”, gợi liên tưởng đến hình ảnh những vị hiền nhân, ẩn sĩ hay nhà sư già đầy trí tuệ. Cây - một vật vô tri - nay hiện lên như một người thầy im lặng, giao tiếp với trời đất bằng sự tĩnh tại và điềm đạm.

Đáng chú ý, bài thơ “Mắt bò” được lấy làm tựa đề cho tập rất tâm đắc của mình, Hữu Việt đã với đến một chiều kích thi ca khác. Trong bài thơ, hình ảnh một con bò lặng lẽ đứng nhai mưa, kiên nhẫn - chịu đựng - không than phiền. Cái "nhai mưa" là một hình ảnh rất thơ: con bò không nhai cỏ, mà nhai mưa - nhai những giọt thời gian, nhai nỗi lạnh buốt, nhai cả đời sống nhọc nhằn.

Bài thơ không nói nhiều, nhưng đủ để thấy cái mỏi mệt, nhọc nhằn của thân phận lam lũ âm thầm. Con bò ở đây không còn chỉ là động vật - nó hiện lên như một biểu tượng của tầng lớp lặng thầm, chịu thương chịu khó, mà ánh mắt buồn kia, như phản chiếu cả một chiều đông ở miền thôn dã, cả một nỗi đời kéo dài không lời than.

Từ ánh mắt con bò - hay đúng hơn là từ ánh mắt ký ức - nhà thơ nhìn lại mình, nhìn lại quá khứ đã đi qua mà có thể chính mình đã lãng quên, đã bỏ quên những giá trị thật thà, cần mẫn, giản dị: “Tôi gặp/ một con bò kiên nhẫn đứng nhai mưa/ Nó không đứng chơi, trên vai ách nặng/ mắt rợp buồn chiều đông/ Người đánh xe ngồi hút thuốc lào cách một xa không/ Tôi nói với bò: "Chào anh". Con bò - im lặng/ như một hiểu lầm, như một cách xa/ Tôi đã thấy/ trên đồng, dưới sông, bờ đê, ngõ nhỏ/ bò đen bò vàng bò kéo cày bò nhai cỏ,/ sao chỉ nhớ/ cái con bò kiên nhẫn nhai mưa-quá-khứ/ Im lặng nhìn tôi/ như một lỗi lầm, như một cách xa”.

Qua các tập thơ đã in, tôi thấy trong thơ Hữu Việt có hai dòng chảy lặng lẽ đan vào nhau qua năm tháng, đã làm nên sự sinh động của một từ trường thơ. Trong đó, nhiều bài thơ (ở thể loại vần điệu), tác giả nghiêng về phía sự chọn lọc, tinh tế trong từng câu, chữ mượn thiên nhiên để tả nỗi lòng, để thăng hoa cảm xúc. Và, ở không ít bài thơ khác (ở thể loại tự do), tác giả đã nghiêng về phía nhận diện đời sống xã hội và con người, để nâng cao tính tư tưởng trong mạch thơ trữ tình thế sự và trữ tình nhân sinh. Sự cân bằng giữa hai dòng chảy đó đã làm nên chân-dung-thơ và chất thơ Hữu Việt những tháng năm này.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).